Lời khuyên Thích Ứng Cho Các Thiền Sinh - Phần 1

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

LỜI KHUYÊN THÍCH ỨNG CHO CÁC THIỀN SINH (Phần 1)

( Thiền Phật Giáo)
(PRACTICAL ADVICE FOR MEDITATORS)

Bhikkhu Khantipalo
The Wheel Publication No. 116
Copyright
Ó 1986 Buddhist Publication Society 
Dịch V
iệt : Mỹ Thanh

 ---o0o--
http://www.tayphuongtinhdo.com/vs/images/stories/01ducthichca.jpg


NỘI DUNG

1. Lời nói đầu
2. Hai dòng thiền
3. Lời khuyên hữu ích cho các thiền sinh

4. Ngồi thiền mỗi ngày
5. Ẩn cư

6. Sinh hoạt hàng ngày

7. Thiên đường (Brahma-vihara) và sự hoàn hảo của nó

8. Kiên nhẫn (Khanti-parami) và sự hoàn hảo của nó
9. Tinh tấn (viriya-parami) và sự hoàn hảo của nó
10. Sự tự chủ (samadhi-parami) và sự hoàn hảo của nó
11. Những nguy hiểm trong lúc thực tập thiền
12. Phụ lục 40 bài thực tập thiền như đã được liệt kê trong 13. Con đường Thanh Tịnh hoá

Ghi chú

  LỜI NÓI ĐẦU

 Những trang sau đây là những phần mới được thêm vào cho quyển sách - “Đạo Phật là gì ?” in lần thứ hai.  Vì có nhiều người rất hâm mộ việc thực tập thiền và cũng có một số người tách rời khỏi nguồn truyền thống sống động này và hy vọng rằng những điều sau đây sẽ có giá trị cho những người thực tập thiền ngoài những quyển sách bổ sung.

Khi chúng ta muốn thực tập thiền chúng ta  phải có những lý do chánh đáng cho sự thực tập này.  Thiền - một định nghĩa hay hơn từ Samadhi là sự bình thản - chỉ là một khái niệm của sự thực tập Phật giáo một điều cần thiết để thành công cần phải kèm theo những thực tập khác như lòng quảng đại sự dịu dàng không bạo động kiên nhẫn vui vẻ và nhún nhường.  Nếu những điều tốt này không có nơi một người thiền sinh thì đúng là có điều gì không ổn và chỉ có một người dại dột mới ráng tiếp tục thực tập.  Sự bình thản tự chủ luôn dựa trên nền tảng căn bản đạo đức (sila) và một người không thể nào thành công nếu họ không chịu giữ gìn giới luật.

http://suoinguonhanhphuc.com/Upload/News/71200913746_1230867201.gif

     Những dấu hiệu của “sự tiến bộ” nơi lòng tự chủ không phải là những cảnh tượng khác thường những cảm giác kỳ lạ (mặc dù những điều này có thể xuất hiện khi thiền sinh có sự tiến bộ trong việc thực tập) nhưng mà là một sự bình an hài hoà trên con đường đạo.  Nếu một người thực tập không có thầy thì cần phải thật cẩn thận.  Nếu không một người không bao giờ biết được mình đang đi trên con đường chánh pháp hay tà pháp.

Bài tiểu luận này được trích ra từ quyển sách “Buddhism Explained” (Phật giáo giải nghĩa) in lần thứ hai (sửa chửa và bổ túc) của quyển sách “What is Buddhism?” (Đạo Phật là gì ?) ấn bản của The Social Science Press (Báo Khoa Học Xã Hội) ở Thái lan Phya Thai Road Chula soi 2 Bangkok.

 --Bhikkhu Khantipalo

http://tvdaidang.org/img2010/tichtruyen8.jpg

 HAI DÒNG THIỀN 

Có hai dòng thiền Phật giáo cho dù trong khi thực tập thì hai dòng thiền này được xem là bổ túc lẫn nhau.

Rất lợi ích cho một số người có tư tưởng năng động luôn bị phân tán bởi những ý tưởng lăng xăng lộn xộn.  Tư tưởng là một chuỗi dự kiện tinh thần xuất hiện và biến mất một cách nhanh chóng.  Mỗi một dự kiện là một tư tưởng đầy đủ với những yếu tố tinh thần cho nên trong lúc ban đầu cái tư tưởng cái tâm trí này là “sự chú ý” và nó quan sát những “tư tưởng” khác (tất cả chỉ là một sự tiếp diễn không ngừng nơi phần tinh thần của một người).

Nhờ vậy một người mới dần phát triển được khả năng quan sát tâm trí tư tưởng để xem nó đi đâu. Đi về quá khứ hiện tại hay tương lai.  Có phải nó đang nghĩ đến vật chất hay cảm giác hoặc đang nhận thức hay đang ham muốn   hoặc là nó biến mất nơi ý thức ?  Bằng phương thức hỏi rằng “Nó đã đi đâu?”.  Sự phân tán nơi tinh thần sẽ từ từ được kiểm soát cho đến lúc “sự chú ý” hay “chánh niệm” trở nên nền tảng vững vàng cho việc hành thiền tiếp tục.  Tâm trí cần được huấn luyện và phát triển theo cách thực tập này nhưng nó phải được quân bình bởi sự tỉnh lặng thấm nhuần.  Khi tinh thần trở nên yên tịnh thì một người nên bắt đầu thực tập thiền (jhana) và đây là bước đầu cho trí tuệ xuất hiện.  Phương cách này gọi là “trí tuệ đưa đến tỉnh lặng”.

Những cách thực tập khác dành cho những người mà tinh thần ít bị giao động bao gồm bốn mươi đề tài cổ điển về thiền (xem phần phụ lục); và những đề tài thiền này cộng với những cách thực tập khác phát triển hơn dựa vào một đối tượng để làm đề tài cho sự tập trung.  Có thể là thân thể của chúng ta hay một phần thân thể màu sắc của một bức tranh một chữ hay một câu và sự suy ngẫm trừu tượng vân vân và vân vân.  Tất cả những phương thức này kèm theo sự rèn luyện về tinh thần một cách kỹ càng nhưng vừa phải .  Lúc mà tư tưởng chạy sang chỗ khác thì phải từ tốn kéo nó trở về (bằng chánh niệm) để tiếp tục tập trung vào vào đề mục đã chọn.

Nhiều người lầm tưởng và cho rằng thực tập như thế này thì nhất định sẽ có được sự tỉnh lặng ngay lập tức.  Họ sẽ ngạc nhiên khi bắt đầu thực hành vì họ sẽ nhận thấy có nhiều trở ngại hơn họ nghĩ.  Lúc đầu là như vậy   vì có bao giờ họ chịu kiểm soát tư tưởng của họ đâu.  Kế đó lúc bắt đầu thực hành cũng giống như lấy một khúc cây khuấy nước đọng trong ao hoặc khơi đống lửa tro.  Tư tưởng như con voi rừng quen chạy rong trong khu rừng ham muốn sẽ không dễ gì để bị huấn luyện không dễ gì bị cột lại.  Nhưng với sự chuyên cần và chú tâm thì dần dần ta có thể dùng dây chánh niệm để cột voi lại và kết quả là ta sẽ được sự tỉnh lặng.

Bốn mươi đề tài nói đây nằm trong cách thực tập thứ hai này mà khi đã có được sự yên tịnh nhờ vào thực tập thì trí tuệ sẽ xuất hiện.  Vì thế được gọi là “tỉnh lặng đưa đến trí tuệ” và các bài tập này rất quan trọng trong thời buổi hiện tại điên cuồng này. Để hiểu rõ thêm một người nên tìm đọc Path of Purification (Con đường thanh lọc – Visuddhi-magga bản dịch) cho dù quyển sách này cho ta một kiến thức vĩ đại nó cũng không thể thay thế được sự liên hệ trực tiếp giữa thầy và trò.

  Lời khuyên hữu ích cho các thiền sinh

 Từ quan điểm tâm lý đến thực hành sự thiền định dành cho giới cư sĩ có thể được chia ra làm hai thành phần : nổ lực thực hành và thực hành trong sinh hoạt hàng ngày.  Nổ lực thực hành cũng có hai phần : ngồi thiền mỗi ngày hay đôi khi ẩn cư (retreat).

  Ngồi thiền mỗi ngày 

Trước hết chúng ta bàn về việc nổ lực thực hành thiền mỗi ngày.  Có nghĩa là ngày nào cũng ngồi thiền vào một giờ nhất định.  Cần phải cẩn trọng đừng nên ngồi thiền như một nghi lễ mà phải luôn tự nhủ vì lý do nào mà ta phải thực hành thiền.  Những ý kiến sau đây là những gợi ý hữu ích.

Nói về phần vật chất thì nơi thực hành thiền cần phải yên tịnh.  Nếu có được một phòng nhỏ dành cho việc hành thiền thì thật là tốt.  Dù sao thực hành thiền một mình vẫn hay hơn trừ khi những người trong gia đình đều cùng thực tập.  Một người cần chắc chắn rằng tinh thần của chính mình phải trong sạch trong liên hệ với người chung quanh như không tham lam sân hận vì những độc chất này sẽ cướp mất kết quả của sự hành thiền.

Muốn yên tịnh hay nhất là nên dậy sớm để hành thiền trước khi những người khác thức dậy.  Hơn nữa lúc sáng sớm là lúc tâm trí thoải mái nhất và cơ thể không bị mệt mỏi.  Một thiền sinh hết lòng thực tập sẽ luôn thực hành thiền vào những giờ nhất định vì biết rằng chỉ cần đủ giờ ngủ nghỉ thì thân thể sẽ thoải mái và tỉnh táo hơn.

Sau khi thức dậy và làm vệ sinh xong thì nên ngồi thiền với bộ đồ sạch và thong thả.  Cũng nên có một bàn thờ nhỏ với những hình ảnh Phật nhưng cũng không cần thiết lắm.  Vài người khác thì dâng hoa cúng Phật thắp hương trong sự tỉnh thức cao độ.  Trong những nước Phật giáo thì thiền sinh thầm niệm “Namo tassa bhagavato arahato samma-sambuddhassa” (Nam-mô Bậc ứng cúng chánh biến tri bậc giác ngộ viên mãn) khấn nguyện về ba nơi nương tựa và những giới cấm.  Nếu một người thuộc những lời kinh tán thán Phật Pháp Tăng bằng tiếng Pali thì cũng nên niệm những lời này trong khi hành thiền.  Một điều hữu ích khác quan trọng cũng không kém là sự suy ngẫm về những lời tụng niệm vì chúng giúp ta suy ngẫm về chân lý của pháp.

http://img830.imageshack.us/img830/7222/small1229631486nv.jpg

“Được may mắn có thân người tôi có hai trách nhiệm trong pháp giới : lợi ích cho chính bản thân và lợi ích cho những người khác.  Những chúng sinh khác dù là người hay không phải người có hình thể hay không có hình thể lớn hay nhỏ xa hay gần tôi sẽ đối xử với tất cả chúng sinh bằng sự dịu dàng tử tế và mong rằng tất cả đều được an lành.  Mong cho tất cả đều hạnh phúc…!  Tôi sẵng sàng giúp đỡ khi thấy họ đau khổ và sung sướng với họ khi thấy họ hạnh phúc.  Mong sao cho tôi phát triển lòng bình đẳng không phân biệt có một tâm trí luôn thăng bằng để không bao giờ tức giận !

Trong lúc lo cho kẻ khác tôi sẽ không quên sự tiến triển của chính mình trên con đường giáo pháp.  Mong sao cho tôi nhận biết được mình đang bị gió nghiệp nào lôi kéo vì đã nhiều lần đau khổ triền miên trong sinh tử! Tôi cũng nên biết rằng cuộc sống này là ngắn ngủi và tạm bợ.  Tâm trí và thân thể luôn đổi thay trong từng giây phút.  Cả tâm trí lẫn thân thể này không phải là của tôi hay là tôi.  Và nhận thấy rằng tâm trí hay bị dao động vì những khó khăn xảy ra trong cuộc sống ngắn ngủi này.  Vì si mê và đầy ham muốn tôi cần phải biết rằng cái chết là điều không thể tránh khỏi già và bệnh là những việc tự nhiên phải đến.

Tôi phải cố gắng để biết rằng cái người được gọi là “Tôi” là một tập thể của tinh thần và vật chất và nơi đó không có một thực thể nào gọi là linh hồn hay cái ngã thực sự hiện hữu.  Mong sao cho tôi thấu hiểu được rốt ráo ý nghĩa của vô thường và vô ngã.  Mong sao cho tôi được ở trong hư vô! Và giác ngộ được chân lý cao tột để sau này có thể dẫn dắt được những người khác!”

Khi ngồi thiền nên giữ thân thể thẳng nhưng thư thả.  Không nên cứng ngắt bó buộc đầu không nên gục xuống thắt lưng phải thẳng.  Thân thể phải yên tỉnh và thăng bằng.  Mặc dù tư thế kiết già là tốt nhất khi thiền sinh ngồi trên một gối đệm nhỏ có thể dùng ghế cho những người không thể hoặc không quen ngồi kiết già.  Ngồi kiết già hay bán kiết già sẽ dễ nếu có một gối cứng để dưới bàn toạ. Đầu gối sẽ đụng đất và ba điểm tựa vững chắc (hai đầu gối và bàn toạ) sẽ làm cho việc ngồi thiền được dễ dàng.

Mỗi ngày một người nên ngồi thiền trong một thời gian nhất định cho đến khi có được sự tập trung kha khá lúc ấy ta nên kéo dài thêm thời gian ngồi thiền.  Có người đốt một nén nhang để đo thời gian ngồi thiền.  Ngồi cho đến khi nén nhang tàn. Để hai tay theo tư thế thiền mắt có thể nhắm hay khép hờ tuỳ ý. 

Có nhiều cách thức được sử dụng để tập trung tâm trí và hai cách thiền chánh đã được nhắc đến như trên.  Những cách thức khác như lập đi lập lại một chữ hay một câu và có thể dùng xâu chuỗi.  Nếu một người thực tập chú ý vào hơi thở thì có thể dùng chữ “Buddho” hoặc “Araham” để làm yên tịnh tinh thần.  Thì thầm lập lại âm tự đầu khi hít vào và chú tâm vào âm tự sau khi thở ra.  Cũng như đếm hơi thở ( từ một đến mười - thường không đếm hơn số mười vì tâm trí sẽ dễ chạy loanh quanh) để giữ sự tập trung. 

Nhưng các phương cách này cần được bỏ đi khi đã bắt đầu có được sự tập trung cao.  Khi thực tập vào một câu thì xâu chuỗi được sử dụng để đánh dấu mỗi câu bằng một hạt trên chuỗi.  Sự thực tập thiền được tiến triển tốt đẹp khi sự tập trung vào một đối tượng được gia tăng.  Nhưng cũng không nên cho rằng thực tập thiền là vô ích khi có những lúc ta bị xao lãng lo ra hay buồn ngủ. Đây là những trở ngại cần được đối diện.  Và nếu chúng được nhận diện bằng sự chú tâm không phải bằng sự bực bội hay chán nản thì những khó khăn này sẽ được khắc phục. Để thành công điều cần thiết là ta phải luôn kiên trì và quân bình trong sự cố gắng.

http://vnthuquan.net/user/Ct.Ly/thien03.jpg

      Khi xả thiền
ta nên tụng một bài kinh và hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh.  Trong lúc này nên tụng Kinh Từ Bi – Metta Sutta (Bài kinh về lòng từ) vì bài kinh không dài nên rất dễ nhớ.  Vì có nhiều cách tụng cho nên nếu có được một cuộn băng của bài kinh này được đọc tụng bởi các thầy thì rất tốt. 

Trong vấn đề tụng kinh việc hữu ích là nên biết rằng một vài bài giảng của Đức Phật được nói ra bằng ngôn ngữ cổ điển của Phật giáo.  Một khi tâm trí bị phân tán thì bài kinh tụng có thể giúp một người trở lại sự chú tâm.  Vào những lúc bị xao lãng thiền sinh không nên thất vọng nhưng nên tiếp tục ngồi và tụng những bài kinh cho chính mình nghe. Đây là một cách thực tập của các thầy ngày hai lần để phát triển tinh thần. Đồng thời cũng là cách củng cố niềm tin và để quân bình trí tuệ. 

Một cách thực tập khác là thiền hành có thể được thực tập ngay trong nhà hay trong khu vườn.  Chiều dài khoảng hai mươi hoặc ba mươi bước là đủ vì nếu khoảng cách dài hơn tâm trí sẽ chạy nơi khác và nếu ngắn quá thì sự phân tâm sẽ dễ gia tăng.  Một người nên đi theo nhịp đi bình thường của mình hai tay nối nhau để thong thả trước thân.  Vào cuối con đường thì nên quay lại theo chiều kim đồng hồ.

Vài lời tâm nguyện cũng rất cần thiết cho việc thực tập.  Không có một người Phật tử thành tâm nào mà không thực tập thiền. Để tâm thực tập thiền người đó phải có những lý tưởng Phật giáo trong tâm.  Nhờ nương tựa vào giáo pháp người Phật tử sẽ dễ vượt qua những trở ngại trong lúc thực tập.  Bất cứ một trở ngại nào xảy đến đều bị khuất phục nhờ vào sự thành tâm của một người.  Nếu trên bước đường tu tập thiền sinh nhận thấy bị bít lối sự tu tập không tiến bộ và người này không có vị thầy bên cạnh.  Họ không nên chán nản hay bỏ cuộc mà phải nghĩ rằng : “Tôi đang nhận lấy những quả không tốt mà tôi đã gieo trong quá khứ”. Và rồi người này nên nhớ lại lời cuối của đức Phật :

“Tất cả  những gì giả hợp đều sẽ tan rã.  Với chánh niệm các người hãy tinh tấn”.  Tất cả những khó khăn cũng là những giả hợp và rồi chúng sẽ thay đổi trong lúc này hãy mãnh liệt tận tâm sử dụng chánh niệm để nhận thấy sự thật này.

Nếu một người không mệt lắm sau một ngày làm việc và có cơ hội vào buổi tối hoặc một lúc nào đó rảnh rỗi thì nên ngồi thiền.  Dẫu sao đi nữa nên tập có thói quen ngồi thiền trước khi đi ngủ.  Nên nghĩ rằng : “một khi ta đã nằm xuống thì chắc gì ta sẽ lại thức dậy”.  Vì thế một người có thể nằm xuống để chết và cách này là cách hay nhất để nhắc nhở ta loại bỏ những tánh xấu và để thực tập sự tỉnh thức.  Nếu một người thực tập điều này “nằm xuống để chết” cách này rất hay để tập cho ta sẵn sàng cho cái chết có thể đến bất cứ lúc nào trong tương lai. Để giúp ta dần dần từ bỏ không bám víu vào những gì không thuộc về mình chẳng hạn thân và tâm này.

Một câu kinh hay một chữ nào trong giáo pháp đều có thể được sử dụng lập đi lập lại nhiều lần trước khi đi vào giấc ngủ.  Bằng cách này một người bắt đầu và kết thúc một ngày bằng sự thực tập giáo pháp của đức Phật.  Ngoài việc thành tâm thực tập cả ngày đâu có gì tốt hơn nữa ?

http://thienviendaidang.net/images/news/trilieu2.JPG

Ẩn cư

 Cách thực tập cao độ là sự ẩn cư.  Một thiền sinh sốt sắng có thể đi ẩn cư nếu những tiện nghi cho phép. Ở phương tây chỉ có vài nơi để thực tập. Điều quan trọng là làm sao nhận được lời chỉ dẫn trực tiếp nơi một người thầy có kinh nghiệm (sách chỉ là bước đầu vì đôi lúc kể cả có thầy cũng vẫn chưa đủ).  Một khi tìm được vị thầy rồi thì một người phải hết lòng chuyên cần để thực tập và để thể nghiệm lấy những gì mình đã học được.  Nếu một người có được một người thầy và có điều kiện để thực tập thì người này là người may mắn nhất.

Nhiều người sẽ không có cơ hội có được một người thầy và vài người khác sẽ cố gắng đi ẩn cư để thực tập thiền ở vài nơi yên tịnh ở miền quê.  Chỉ nên thực hành việc ẩn cư khi mà thiền sinh đã được sự chú tâm cao.  Nếu không thì việc ẩn cư sẽ không có lợi ích đôi lúc còn có vẻ tăng cường những trần cấu của tinh thần.

Sinh hoạt hàng ngày

 Đã có rất nhiều bài viết về những cách thực tập thiền khác nhau.  Sau đây là những lời chỉ dẫn.  Trước hết một người không nên tự dối mình khi nói về sự chú tâm.  Không lợi ích gì khhi mình tự dối mình và những người khác là cuộc sống của mình là thiền trong sinh hoạt hàng ngày — trừ khi một người đã có được sự chú tâm cao độ.  Chỉ có những người từng ngồi thiền trong nhiều năm và giữ giới như những tu sĩ thì mới có thể nói họ sống với “Thiền” trong sinh hoạt hàng ngày; mà nếu thật sự có như thế thì thông thường người này cũng không nói điều này ra cho người khác biết.  Từ chối không cho sự hãnh diện có cơ hội để làm méo mó trạng thái của tâm thức một người nên giữ quân bình và biết chấp nhận giới hạn của chính mình.  Và đây là một bước lớn để tiếp tục.  Nếu một người cư sĩ tự nghĩ rằng mình là một vị A-la-hán thì điều này sẽ ngăn cản bước tiến của mình; trong khi một người thành thật thì ít ra cũng có được sự hiểu biết để trở nên khiêm tốn hơn.

Nếu không có chánh niệm thì khó lòng có hy vọng sống được với thiền trong sinh hoạt hàng ngày.  Những việc bình thường vẫn có thể trở nên những đề tài cho sự thực tập thiền.  Chánh niệm là sự chú tâm biết mình đang làm việc gì ngay trong hiện tại.  Chẳng có gì thú vị hết cho nên cần phải có sự cố gắng lúc ban đầu để tránh không mất “chánh niệm”.  Thường khi nào muốn tránh những cảnh nhàm chán hay việc gì không thích hợp thì chúng ta hay hướng về những thế giới không tưởng nghĩ về quá khứ hoặc tương lai và trốn tránh hiện tại.  Nhưng nếu một người thật sự muốn hiểu rõ về mình thì những việc nói trên không có lợi ích gì hết bởi vì chúng được tổng hợp bởi những ảo tưởng như sợ hãi si mê. 

Trong khi chúng ta thực hành thiền một cách nghiêm ngặt thì chánh niệm có thể theo dõi tất cả những gì đang xảy ra trong tâm trí; trong công việc hàng ngày ta nên đem chánh niệm đến với việc làm của chúng ta.  Một người không nên “gởi” tâm trí đi lông bông không để nó mơ tưởng về quá khứ hoặc tương lai. Đức Phật ngày xưa có nói như sau :

“Quá khứ như một giấc mơ

Tương lai tựa ảo tưởng

Trong khi hiện tại như đám mây”. 

Sự so sánh này rất cần thiết để giữ sự chú tâm vì tâm trí hay chạy lăng xăng.  Sự thực tập thiền giúp cho tâm trí “nằm trong” cơ thể nghĩa là luôn có sự chú tâm nhận biết về một việc gì.  Chỉ có người thiền sinh hết lòng mới thấy được lợi ích của việc thực tập.  Bởi vì sự thực tập này cắt đứt mọi hứng thú đối với bên ngoài và làm ngưng bặt sự suy nghĩ viễn vong.  Cái hay của chánh niệm là giúp ta tìm thấy được sự hứng thú trong công việc hàng ngày.

Mỗi ngày qua đưa chúng ta gần kề với cái chết và cho dù với sự tái sinh ta cũng không biết mình sẽ đi về đâu.  Chỉ có hiện tại cho chúng ta cơ hội để thực tập giáo pháp thay vì sống trong ảo tưởng hay chán ghét những gì mình không thích (hoặc dễ dãi với lòng tham của chính mình) với chánh niệm chúng ta có thể chuyển hướng những thói quen cũ.  Không phải bị kềm chế bởi tham lam hay sân hận và bị thống trị bởi những ảo tưởng và chỉ có chánh niệm mới có thể chỉ cho chúng ta đến con đường giải thoát.

Trong sự thực tập hàng ngày chúng ta phải để chánh niệm có mặt luôn luôn để giúp chúng ta dần dần tách khỏi sự ràng buộc.  Chúng ta cũng nên khôn ngoan lợi dụng những cơ hội “nghịch” như : chờ đợi xe lửa hay xe buýt trong lúc chờ đợi ai bất cứ lúc nào ta một mình trong vài phút.  Thay vì chúng ta đọc báo nói chuyện điện thoại hay tán dóc với người khác sẽ có lợi ích hơn nếu chúng ta cho tâm mình được “nghỉ ngơi”.  Tách rời sự chú tâm nơi những vật bên ngoài tập hít thở trong chánh niệm hoặc lập lại những câu trong giáo pháp hoặc những chữ như “Buddho” (Phật)  hoặc “Arahat” (A-la-hán) làm như vậy cho đến khi chúng ta trở lại với công việc của mình.


http://khanhhuong.jcapt.com/img1/store/Diembao/2010_3/ngoithien.jpg

     Trở về bên trong thường thường là một việc làm hết sức lợi ích nó giúp ta củng cố việc ngồi thiền và ngồi thiền giúp chúng ta mạnh thêm về khả năng quay lại bên trong.  Chú tâm vào hơi thở là một cách tập trung rất tốt trong lúc chúng ta đi du lịch hoặc đang chờ xe buýt hay xe lửa.  Tại sao ta phải hấp tấp và thiếu kiên nhẫn ?  Một chút thực tập về hơi thở nên dành cho những lúc như thế này chú tâm vào hơi thở giúp tâm trí ta bớt lăng xăng và giúp cho cơ thể ta bớt

dao động.  Một du khác phải cứ nhìn ra ngoài cửa sổ trong lúc phi cơ đang bay!  Tại sao ta phải làm nô lệ cho cặp mắt trong khi một chút thực tập có thể lợi ích hơn.  Một người không cần phải nghe những người chung quanh tán ngẫu tại sao lại làm nô lệ cho “lỗ tai” ? Người ta không thể đóng hai tai lại nhưng ai ai cũng có thể đem sự chú tâm của mình vào việc thực tập chánh niệm. 

      Cũng chính chánh niệm giúp cho sự tập trung trong lúc ngồi thiền.  Chẳng hạn như ham muốn nhục dục có thể bị tan biến khi ta nghĩ đến sự mục rửa của thây ma.  Nhan sắc được ban tặng cho các cô gái xinh xắn (hoặc anh chàng đẹp trai)  trở nên lố bịch khi ta nghĩ đến những ông bà già có hấp dẫn ai đâu.  Chỉ khi nào ta nhận thấy chính dục vọng sẽ đốt cháy kẻ ham muốn lúc ấy ta mới thấy nên từ bỏ nó.  Cũng như vậy sự tham ăn dù chỉ chút chút cũng có thể từ bỏ được khi ta tập trung sự suy nghĩ về những tiến trình của đồ ăn. Đồ ăn đã nhai rồi dù có bày trên đĩa đẹp cách mấy cũng chẳng thấy ngon.  Ói mửa cũng là những thức ăn đó nhưng đâu có ai ham.  Cả đến phân để trên đĩa bằng vàng cũng không hấp dẫn được ai – nhưng đây lại là những gì còn lại của những món ngon đã ăn !  Khi một người đã suy ngẫm về thức ăn trong ba giai đoạn kể trên lòng tham sẽ biến mất và khi một người ăn họ dùng thức ăn như là một món thuốc để giữ gìn thân thể này.

Trong lúc đang tức giận chánh niệm có trách nhiệm để biết rằng ta nên đem sự chú ý qua một đề tài khác hay một người khác.  Chính chánh niệm cảnh giác chúng ta khi chúng ta sắp sửa tức giận và chính chánh niệm sẽ giúp ta chuyển hướng và giữ được thế quân bình.

Khi ganh tỵ xuất hiện chánh niệm giúp ta thấy bằng tâm trí là “ganh tỵ đang xuất hiện” và nếu ta không vui mừng với niềm vui của kẻ khác thì chánh niệm cũng cho ta biết rõ điều đó để giúp ta giữ thế quân bình hoặc giúp ta hướng sự chú ý của mình đến những đề tài khác. Đức Phật thật sự đã nói “Chánh niệm ta tuyên bố rất là lợi ích ở mọi nơi”.

Những người có ý tưởng lệch lạc cho rằng Phật giáo khuyến khích sự thiền định cá nhân cho nên không làm gì lợi ích cho xã hội.  Họ nên hiểu rằng người Phật tử tin là xã hội có thể tốt hơn nếu mỗi người biết tự sửa đổi.  Một xã hội lý tưởng theo người Phật tử đã được đức Phật giảng trong những bài pháp dành cho người cư sĩ và luôn nhấn mạnh sự phát triển của cá nhân là quan trọng và là một yếu tố cần thiết.  Một xã hội lành mạnh là nơi mà có những người dân sống hoà bình với chính bản thân mình.  Sự phát triển về trí tuệ và từ bi của một người có ảnh hưởng đến những người chung quanh như là bột nổi bỏ vào trong bột bánh. 

Vì vậy người Phật tử luôn kêu gọi hãy cố gắng đạt sự an bình trong tâm mình một khi mọi người có an bình trong tâm họ thì hoà bình sẽ có mặt trên thế giới.  Nếu chỉ muốn có hoà bình mà không tự tu tâm thì không làm sao có được hoà bình miên viễn vì gốc rễ tham sân si vẫn còn nằm trong tim mọi người.   Không thực tế ?  Chỉ dành cho những người không thực tập.  Những người có thực tập nhận thấy sự lợi ích của thiền đã giúp họ giải quyết được một số vấn đề trong cuộc sống. 

Cho dù có tham gia nhiều ngày để thực tập thiền con đường đưa đến Niết bàn vẫn cần nhiều nổ lực. Đôi lúc gặp phải trở ngại trên đường nhưng với chánh niệm làm ngọn đèn soi sáng ta hiểu được rằng mục đích của mình là đáng giá và huy hoàng không phải chỉ cho riêng ta mà cho tất cả mọi chúng sanh.

  Thiên đường (Brahma-vihara) và sự hoàn hảo của nó

 Con đường dẫn đến Niết bàn có qua những nơi chốn gọi là “Thiên đường” nơi để ta luyện tập từ dở trở thành hay trên con đường tu tập giáo pháp.  Như đã nhấn mạnh ở trên mục đích là hạnh phúc cho mình và cho tất cả chúng sanh.  Vì thế một người phải hành động như thế nào để có được một kết quả hạnh phúc.  Trong trường hợp này một người cần phải đối xử với những người khác như họ muốn được đối xử.  Bởi vì mỗi một chúng sanh đều quý trọng chính mình và mong ước được hạnh phúc.  Một người không thể nào có được hạnh phúc riêng rẻ và không có nguyên nhân của nó cũng không thể có được hạnh phúc khi mà ta đối xử tệ với những người khác hay những chúng sanh khác.  Mọi chúng sanh đều tham sống sợ chết đây là một điều rất thật đối với chúng ta cũng như đối với các sinh vật khác.

http://www.phapvan.ca/pv/minhhoa/TinThangBay_tuan01%20(1).jpg

Một người luôn luôn hành động đúng và sống một cuộc sống từ bi là người thực sự thương chính bản thân mình vì họ làm những việc có lợi ích có hạnh phúc.  Những người khác cho dù họ nghĩ rằng họ rất thương bản thân họ nhưng thật ra họ lại là kẻ thù tệ nhất của chính họ vì họ làm những việc không có lợi cho họ cũng như những việc mà kẻ thù của họ muốn làm cho họ.

Phẩm hạnh tốt dựa trên sự thuần thục của tâm trí một khi tâm trí được giải thoát khỏi sự kềm kẹp của tham sân si. Đối xử với người láng giềng như đối xử với chính mình nói thì dễ nhưng làm thì khó.  Những bài giảng của đức Phật có một giá trị đặc biệt là chỉ cho thấy làm thế nào một phương cách được dịch giảng bằng kinh nghiệm với phương cách thực tập về thiên đường có tính cách tinh thần.  Khi chúng ta nói đến “tinh thần” chữ này không nên được hiểu trong một ý nghĩa nhỏ hẹp của những tiến trình có tính cách tri thức nhưng mà là gồm có tinh thần – và – con tim tri thức và tình cảm.

Có bốn trạng thái thuộc về thiên đường :  thân thiện từ bi vui vẻ và bình thản.  Tất cả những điều này nhất là điều thứ nhất là những thực tập thiền rất phổ biến ở những đất nước Phật giáo.  Tiếp theo là một giải thích ngắn cho mỗi trạng thái.  Sự thân thiện (metta) là một tình thương không ích kỷ và có thể lan rộng đến tất cả mọi người. Điều này trở nên dễ dàng một khi thấm nhuần trong thiền định khi mà phẩm chất của sự thân thiện trở thành một phần của cá tánh nơi một người. 

Theo thói thường con người chỉ “thương yêu” một số người nào mà có liên hệ gia đình v… v… một tình thương yêu như vậy chỉ là sự bám víu của nhục dục một tình thương bị hạn chế và những người đứng ngoài tình thương đó thường bị làm ngơ hoặc bị ghét bỏ.  Như vậy tình thương yêu có tính cách nhục dục không những liên hệ với sự bám víu (tham) mà còn liên hệ với giận hờn (sân) và ảo tưởng (si) và như vậy người nào cảm thấy hài lòng với tình thương kiểu này sẽ phải trả một giá rất đắt.  Rất ít người có được tình thương không có sự bám víu tình thương có thể trở nên vô tận và không cần phải bị thu hẹp trong nhóm này hoặc người nọ. 

Vì tình thương có thể là vô biên không chừa ai hết và như thế không có liên hệ gì đến ba độc tham sân si.  Sự thân thiện có thể được phát triển dần dần nơi sự thực tập hàng ngày của một người; nhưng nếu muốn nó hữu hiệu thì cần phải thể hiện nó trong sinh hoạt hàng ngày. Để làm cho cuộc sống dễ chịu hơn bằng cách ban đầu hãy đổi những người trước đây mình ghét thành những người mình không để ý và rồi khi sự thực tập được củng cố chuyển đổi chúng thành những đối tượng để phát huy sự tử tế. Đây là phương thuốc mà đức Phật đã đề ra để chữa bệnh giận hờn và ghét bỏ.  Cuối cùng một người cần nên cảnh giác với hai kẻ thù : “một kẻ thù ‘gần’ là sự bám víu có tính cách nhục dục mà thường bị lầm lẫn gọi là “thương yêu” trong khi kẻ thù ‘xa’ là sự ghét bỏ.  Trong tiến trình phát triển sự thân thiện một người cần phải đề phòng hai trạng thái này.

Từ bi (karuna) là để ý đến những đau khổ của mọi người trên thế giới.  Nó khắc phục sự lãnh đạm thờ ơ đối với nỗi khổ của chúng sanh.  Như thế lòng từ bi cần được thể hiện trong cuộc sống bằng cách sẵn sàng giúp đỡ và lo lắng cho những người đang khốn đốn. Đây có được một lợi ích là làm giảm đi sự ích kỷ bằng cách thông cảm những nỗi khổ của kẻ khác. Đây là phương thuốc trị bịnh độc ác vì làm sao một người có thể làm thương tổn những kẻ khác khi thấy họ đang đau khổ ?

Đây cũng có hai kẻ thù : “gần” là sự hối tiếc trong khi kẻ thù “xa” là ác độc.  Cùng vui (mudita) là vui với mọi người khi người thành công sung sướng. Điều này khắc phục thái độ khó chịu với kẻ khác và sự ganh tỵ có thể xuất hiện khi nghe kẻ khác sung sướng.  Nơi đây trong cuộc sống một người cần phải bày tỏ niềm vui mỗi khi biết được rằng người khác được lợi ích về vật chất hay tinh thần. Ở đây điều lợi ích là mở rộng lòng đối với kẻ khác và dẹp bỏ tính dấu diếm.

Một người phát triển được sự vui vẻ sẽ hấp dẫn vô số bạn hết lòng với mình và với những người bạn này hay những người khác người này luôn sống trong sự hài hoà. Đây là thuốc của đức Phật dành trị sự ganh tỵ và tỵ hiềm và có thể ngăn chận chúng phát triển.  Hai kẻ thù của sự vui vẻ là sự sung sướng cá nhân ....

Xem tiếp  phần 2

Nguồn: Diễn đàn Nhân điện

More...

Chuyện về Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

Chuyện về Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng

 

http://vinatfs.com/diendan/upfiles/0/1ABE59F861024C8BA9403B5F98DDA1D8.jpg

Phan Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một ngôi làng nghèo thuộc xã Khánh Hòa Yên Khánh Ninh Bình. Năm 1990 khi 17 tuổi vừa thi đại học về Hằng cùng một cô bạn gái đang đi trên đường bỗng có một con chó nhảy xổ ra cắn. Hằng bị cắn vào chân trái cô bạn gái bị cắn vào tay trái. Cũng như người dân ở các vùng nông thôn Hằng và cô bạn cảm thấy chuyện bị chó cắn rất bình thường rồi quên ngay sau đó.

http://www.chuathanhlangson.com/chuathanh/uploads/News/pic/namthienbmt_5.JPG

Vài ngày sau khi bị chó cắn Hằng nhận được giấy báo đỗ đại học. Khoảng một tháng sau cô bạn đột nhiên không nói được nữa hàm răng cứng lại. Nghĩ là bị đau răng Hằng đưa cô bạn đi khám. Bác sĩ nha khoa kiểm tra và khẳng định không phải do đau răng. Hai người lại đèo nhau đến Bệnh viện Quân y 5 Ninh Bình. Sau khi khám xét bác sĩ bảo bạn gái của Hằng có triệu chứng của người bị bệnh dại. Tưởng như đất dưới chân sụt xuống tử thần đã nắm tay mình dắt đi Hằng nói như người mất hồn: "Đúng như vậy. Cháu và cô bạn đều bị một con chó cắn".

http://www.chuahoangphap.com.vn/images/news/hp_1511.gif

Một buổi nói chuyện của Phan Thị Bích Hằng ở Chùa Hoằng Pháp

Sau hôm đó Hằng cũng hôn mê bất tỉnh. Cô bạn thân thì đã qua đời. Gia đình đưa cô đi chữa trị nhiều nơi bằng cả Đông y lẫn Tây y song các bác sĩ thầy lang đều lắc đầu bởi bệnh này từ xưa đến nay không ai chữa khỏi. Khi đến nhà một ông thầy lang theo Thiên Chúa giáo ông xem xét kỹ biểu hiện cơ thể rồi nói một câu an ủi: "Chúa lòng lành sẽ che chở cho con". Sau đó ông bảo người con trai ra nghĩa địa lấy một mảnh ván mà người ta vừa bốc lên hôm trước rồi bào chế với vài vị thuốc. Để giành giật giữa sự sống và cái chết gia đình Hằng liền cho cô uống ngay vị thuốc khủng khiếp này. Sau khi uống thuốc ông thầy lang bảo với bố mẹ Hằng: Sau ba tiếng đồng hồ cháu sẽ cảm thấy nóng khắp người lên cơn sốt mê man nói sảng thậm chí lên cơn điên cắn xé. Nếu ba ngày sau cháu hết cơn thì cháu sống được còn nếu lên cơn trở lại thì cháu không sống được nữa. Tôi rất muốn cứu cháu nhưng khả năng của tôi chỉ có vậy.

http://www.laodong.com.vn/Uploaded_LAODONG/thanhhaidv/20071028/toan-hang.jpg
 

 Đúng như lời ông thầy lang nói 9h tối Hằng lên cơn cắn xé điên cuồng đến 11h đêm mới thiếp đi. Ngày thứ nhất ngày thứ hai không thấy triệu chứng gì. Ngày thứ ba khi cùng người anh trai của cô bạn gái đã mất ra mộ thắp hương thì đột nhiên Hằng cảm thấy có một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Hằng liền nói: "Anh đưa nhanh em về em sắp lên cơn điên rồi". Từ đấy Hằng không còn biết gì nữa. Đến 1h sáng hôm sau gia đình không còn hy vọng bởi Hằng đã hoàn toàn tắt thở. Bình thường những người trẻ tuổi như Hằng ở quê được khâm liệm rất nhanh rồi đem chôn không tổ chức lễ tang kèn trống.

http://123.30.54.34/c.upanh.com/upload/2/830/HY0.6910528_31129_1.jpg
 Thế nhưng có một ông cụ dạy chữ nho ở làng rất giỏi tử vi vào nhà Hằng sau một hồi tính toán ông bảo: "Thứ nhất chưa qua giờ Thìn không được khâm liệm cháu; thứ hai cứ để nó nằm như thế không được thắp hương". Lúc đó một ông bác sĩ nói: "Tốt nhất đậy mặt cháu lại để gia đình đi chuẩn bị cho cháu tại sao cụ lại nói vậy". Ông cụ đó nói tiếp: "Các anh thì có cả một nền y học hiện đại còn tôi chỉ là tàn hương nước thánh nhưng tôi khẳng định nó không chết". Nghe cụ già và bác sĩ tranh cãi gia đình Hằng rất hoang mang không biết xử trí thế nào. Thế nhưng ai đi mua gỗ đóng quan tài cứ đi ai ngồi chờ xem lời ông cụ linh ứng thế nào thì cứ chờ.

Hồi khắc khoải chờ chết Hằng có hỏi bố (bố Hằng là quân nhân): "Vì sao những vị lãnh đạo khi chết người ta lại bắn bảy loạt đại bác" bố Hằng trả lời: "Để linh hồn mau siêu thoát". Nghe bố nói vậy Hằng liền bảo: "Khi con mất bố bắn cho con bảy phát đạn để con mau siêu thoát trở về với gia đình mình".

http://phattuvietnam.net/files/2009/Image32_500x375.jpg

 7h sáng hôm đó bố Hằng mới về đến nhà. Trông thấy đứa con gái tội nghiệp tắt thở nằm đó ông không kìm được nước mắt. Nhớ lời hứa với đứa con gái ông lôi súng ngắn ra bắn. Tiếng súng nổ làm Hằng bật tỉnh dậy và phản xạ đầu tiên là lao ra phía tiếng súng gọi "Bố ơi!". Hằng đạp phải những chiếc vỏ đạn và ngã rất mạnh xuống sân. Mọi người liền khiêng cô vào trong nhà.

Sau khoảng nửa tiếng Hằng tỉnh lại hoàn toàn. Khi đó một cảm giác rất kỳ lạ đến với cô. Thân thể dường như mất trọng lượng như đang bay và nhìn mọi người như ở một thế giới khác. Theo lời Hằng trong thời gian 30 phút bất tỉnh do trượt ngã đập đầu xuống sân cô thấy bà nội và bà ngoại (cả hai đều đã mất) gọi cô. Hằng thấy mình đang đi qua một cây cầu bắc qua con sông lớn với mây mờ sương khói bao phủ. Phía bên kia cầu bà ngoại cùng rất nhiều người đứng vẫy tay bà nội thì đứng bên bờ này kéo lại. Cố vùng vẫy Hằng tuột khỏi tay bà. Đúng lúc đó thì tiếng súng làm Hằng giật mình tỉnh dậy. Mọi người đều vui mừng khôn xiết coi việc Hằng sống lại là chuyện thần kỳ.

Vài tháng sau khi khỏe mạnh hẳn Hằng thường đi lung tung không có định hướng. Điều kỳ dị là nhìn mặt mọi người Hằng có thể biết được họ còn sống lâu hay sắp chết. Một số người đang khỏe mạnh song lại cứ như có ai đó nói với cô rằng họ sắp chết thế là cô tìm họ nói cho họ biết rằng họ sắp chết. Không ít lần cô bị ăn đòn vì... độc mồm độc miệng.

Ngày đó trong làng có ông Vũ Văn Trác 50 tuổi rất khỏe mạnh và quý mến Hằng. Ngày Hằng còn bé có cái bánh cái kẹo ông đều dành cho. Một hôm gặp ông Trác đi làm đồng về Hằng bảo: "Ông ơi chắc là ông sắp mất rồi. Ông đừng đi làm nữa cho khổ!". Nghe Hằng nói thế ông Trác cầm cái roi trâu quát: "À tưởng là con cô giáo mà tao không dám đánh à? Bố mày có là đại tá thì hôm nay tao cũng phải cho mày một trận". Khi ông Trác cầm roi trâu đuổi Hằng còn vừa chạy vừa quay lại bảo: "Ông sẽ chết thật mà". Ông Trác tức sôi máu đánh Hằng một trận cô đau phát khóc nhưng vừa khóc vừa khẳng định vài ngày nữa ông sẽ chết. Hôm ấy những người chứng kiến được bữa cười ra nước mắt. Nhưng rồi vài ngày sau loa truyền thanh xã thông báo ông Trác chết thật. Thông tin ấy làm cả làng sợ hãi.

http://lh3.ggpht.com/_UVC9vE6eSiI/S8N5wjxJyiI/AAAAAAAAEKE/vTQzkU9vGk8/phanthibichhang.jpg

 Tiếp sau ông Trác là ông Bùi Văn Trai Chủ nhiệm HTX thêu xuất khẩu xã Khánh Hòa. Ông Trai là bạn rất thân của mẹ Hằng. Hôm đó giữa hội trường UBND xã rất nhiều người chứng kiến Hằng nói: "Đến tháng giêng là chú chết đấy có bao nhiêu hợp đồng xuất khẩu chú bàn giao hết đi nếu không đến lúc ấy lại không kịp". Ông Trai bực mình nói với bố mẹ Hằng rằng: "Anh chị phải về dạy bảo con chứ cứ để nó huyên thuyên như thế là không được". Không ngờ đầu tháng giêng ông Trai chết thật.

Sau chuyện đó cả làng bảo Hằng bị ma ám nói ai chết là người ấy chết. Người ta cứ nhìn thấy Hằng là tránh xa. Mọi người trong gia đình Hằng đều đau khổ. Mẹ Hằng là giáo viên dạy giỏi nhiều năm các phụ huynh đều rất tin tưởng khi con cái họ học lớp bà chủ nhiệm nhưng biết chuyện của Hằng thì đều xin cho con chuyển lớp. Hằng ra sức thuyết phục mọi người rằng cô không bị thần kinh những chuyện đó là do cô nhìn thấy nhưng không ai tin. Cha mẹ Hằng đưa cô đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác khám thần kinh rồi đưa đi gặp hết "cậu nọ cô kia" cúng bái. Mặc dù khi đó Hằng có khả năng phán đoán được tình trạng sức khỏe thậm chí cả suy nghĩ của người khác song Hằng đau khổ đến nỗi chỉ mong quên hết khả năng ấy đi.

http://www.thanhtra.com.vn/Portals/0/xulycham/hang.jpg

 Theo lời kể của Hằng một ngày trong cơn tuyệt vọng Hằng ao ước được "nhìn thấy" bà nội và bà ngoại những người cô rất yêu quý. Thế rồi kỳ lạ thay vào ngày giỗ bà nội Hằng "nhìn thấy" bà nội (bà chết khi Hằng 10 tuổi) về bế theo một đứa trẻ và dắt theo một đứa nữa. Hằng nói chuyện với bà rồi kể cho mọi người nghe. Ông nội nghe Hằng nói liền kể rằng đó là hai đứa con của ông đã mất lúc tám tháng và ba tuổi. Lúc này mọi người mới kinh hoàng nhận ra rằng Hằng có khả năng đặc biệt.

Ngôi làng Hằng đang sống có ngôi chùa Dầu rất cổ. Khi nhà Trần đánh tan Chiêm Thành bà Huyền Trân Công Chúa không về Thăng Long mà vào tu ở ngôi chùa này. Sau này gia tộc họ Trần cũng về đây ở rồi chết đi thì chôn luôn ở quanh chùa. Một lần Hằng vào nhà ông chú ruột chơi rồi bảo rằng trong vườn nhà chú có bóng người. Nhà chú Hằng ai cũng mắc bệnh kỳ lạ teo một bên chân ngoẹo một bên đầu về bên phải nên ông rất tin lời Hằng nói. Thế là hai chú cháu đào bới thử mảnh vườn. Không ngờ thấy một lớp ngói đã mục rồi đến một lớp đất đỏ. Gạt lớp đất đỏ ra thì thấy lớp quách bằng hợp chất gồm vỏ hến vôi mật. Phá lớp này ra thì thấy cỗ quan tài chạm trổ rất đẹp bằng gỗ ngọc am. Bật nắp quan tài thấy xác ướp người đàn ông. Sau này các nhà sử học xác định ngôi mộ có tuổi 700 năm.

 Chính gia đình Hằng cũng để thất lạc mộ cụ bốn đời. Nhiều lần bố Hằng nhờ đồng đội về đào bới mà không thấy. Đúng ngày giỗ cụ Hằng thử đi tìm. Không ngờ Hằng "nhìn" thấy mộ cụ nằm trên đường đi. Hằng liền rủ mấy người anh ra đường đào. Mấy anh bảo vệ xã nhìn thấy thì bảo: "Chết dở thật. Con ông bộ đội rỗi việc đi phá đường". Hằng khẳng định dưới lòng đường có mộ thì mấy anh bảo vệ bảo: "Thế thì đem cuốc xẻng ra đào thử xem con dở hơi này nó nói có đúng không!". Khi đào sâu gần 2m thì xuất hiện một tấm gỗ có khảm chữ Hán. Hằng liền đem rửa mảnh gỗ đi rồi mang cho ông nội đã 80 tuổi đọc. Ông nội Hằng đọc thấy hai dòng chữ ở hai mặt tấm gỗ là "Âm thủy quy nguyên" và "Vinh quy bái tổ" thì lăn ra khóc. Bao nhiêu năm nay đã nhiều đêm ông không nhắm mắt được vì đã để thất lạc mộ tổ. Lúc này mọi người không còn nghi ngờ gì về khả năng đặc biệt của Hằng nữa.

http://123.30.54.34/c.upanh.com/upload/2/830/HY0.6910528_31129_1.jpg

 Nhưng bố Hằng là một cán bộ được rèn luyện trong môi trường quân ngũ tính tình cứng rắn chỉ tin vào khoa học nên vẫn chưa tin vào khả năng của Hằng. Ông bỏ cả việc cơ quan để ở nhà trông Hằng đuổi hết những người tìm đến "cầu thánh cầu thần". Để chứng minh với bố rằng cô không bị thần kinh không bị hoang tưởng di chứng chó dại cắn cô xin bố cho đi thi đại học và hứa chắc chắn sẽ thi đỗ. Để bố tâm phục khẩu phục Hằng quay ngoắt sang ôn thi khối A ĐH Kinh tế quốc dân cho dù năm trước cô thi khối C. Chỉ có 15 ngày ôn thi kể từ khi xin bố vậy mà Hằng đã thi đỗ với số điểm khá cao 24 điểm.

Khi đó Hằng đã là cộng tác viên của Viện Khoa học thể dục - thể thao. Một số cán bộ có tâm huyết của Bộ VH-TT đã đi theo Hằng để nghiên cứu rất tỉ mỉ về khả năng tìm mộ. Hằng đã nhờ những vị cán bộ này cho người về giúp cô khảo sát lại di tích lịch sử chùa Dầu quê cô có từ đời nhà Trần. Hằng về "nói chuyện" với những người xây chùa tất nhiên là đã chết cách đây 700 năm trong đó có cả nhũ mẫu của Huyền Trân Công Chúa là bà Phan Thị Vinh. Người xưa đã kể tỉ mỉ cho Hằng biết tòa sen như thế nào bát hương ra sao có bao nhiêu sắc phong từ các đời vua. Những gì Hằng thu thập đều được các cơ quan quản lý văn hóa xác nhận đúng. Với những tài liệu hiện vật thu thập được Phòng văn hóa đã trình lên tỉnh tỉnh trình lên bộ và sau đó chùa Dầu được công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

 

 Những gì Phan Thị Bích Hằng làm được cho đời thực sự trân trọng không lý lẽ gì có thể bác bỏ. Đã có hàng ngàn gia đình tìm lại được người thân đã có cả ngàn hài cốt liệt sĩ được trở về đất mẹ sau bao nhiêu năm nằm nơi rừng sâu núi thẳm mà nhiều đồng đội người thân đi tìm không thấy. Thậm chí qua Bích Hằng lịch sử đã phải viết thêm những trang hào hùng về trận đánh khốc liệt ở cánh rừng K Nác huyện K Bang tỉnh Gia Lai. Nơi đây dòng Đắk Lốp đã nhấn chìm 400 thi thể chiến sĩ và cả những chiến công của họ nếu không có nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vượt rừng lội suối tìm hài cốt của họ để đồng đội đưa về nghĩa trang liệt sĩ mang lại niềm an ủi cho các gia đình.

Theo CAND

 



 

 

 

 

 

More...

Lòng Từ Bi và Con Người (Dalai Lama)

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

Lòng Từ Bi và Con Người (Dalai Lama)
Dịch giả : Mỹ Thanh

 

Một câu hỏi quan trọng nằm chôn vùi dưới kinh nghiệm của chúng ta cho dù chúng ta biết đến nó hay không biết đó là : Cuộc sống có ý nghĩa gì không?

Tôi có nghĩ về điều nầy và muốn được chia xẻ với mọi người những gì tôi nghĩ với hy vọng là những điều nầy có thể đem lại ích lợi thiết thực cho những ai đọc qua bài nầy.

Tôi tin rằng ý nghĩa của cuộc sống là hạnh phúc. Từ lúc sanh ra đời mỗi người trong chúng ta đều muốn hạnh phúc và tránh đau khổ. Không một điều kiện xã hội hay giáo dục hoặc một lý tưởng nào có thể làm lệch lạc sự mong muốn nầy.

Từ trong tâm thức của con người chúng ta tất cả đều muốn được an vui hạnh phúc. Tôi không biết vũ trụ với vô số tinh tú ngân hà & thế giới có ý nghĩa gì sâu sắc hay không; nhưng ít nhất chúng ta cũng thấy rõ rằng con người sống trên trái đất nầy có nhiệm vụ làm cho cuộc sống của mình hạnh phúc. Vì vậy điều quan trọng là khám phá ra điều gì sẽ mang lại hạnh phúc nhiều nhất.

http://www.niemphat.com/hinhanh/hinhphattudonggop/images/toasenvaluanxa_jpg.jpg


Làm thế nào để đạt hạnh phúc

Hãy bắt đầu chia hạnh phúc và khổ đau làm hai phần chánh : Tinh thần và thể xác. Trong hai phần nầy tinh thần có ảnh hưỏng nhiều nhất nơi chúng ta.

Trừ khi chúng ta bệnh nặng hoặc bị đói khát cơ thể chúng ta chỉ là phần phụ thuộc trong cuộc sống nầy. Nếu cơ thể tráng kiện chúng ta không hề để ý đến nó. Tinh thần thì khác nó ghi chú mọi việc dù nhỏ nhặt đến đâu. Vì vậy chúng ta phải hết lòng cố gắng làm sao cho tinh thần mình được an lạc.

Trong kinh nghiệm giới hạn của tôi tôi thấy rằng sự an lạc tột cùng là khi chúng ta làm tăng trưởng tình thương và lòng từ bi.

Lúc mà ta lo cho hạnh phúc của mọi người là lúc mà chính ta đang hưởng hạnh phúc. Làm tăng trưởng lòng từ một cách tự động là làm cho tinh thần được bình an. Điều nầy giúp ta dẹp sợ hãi và lo lắng và giúp ta sẵn sàng đối phó với những trắc trở của cuộc đời. Đây là sự thành công tối hậu trong cuộc sống.

Khi mà ta còn sống trong thế giới nầy là ta vẫn còn có vấn đề. Trong trường hợp gặp khó khăn nếu chúng ta đánh mất hy vọng và trở nên chán nản thì ý chí phấn đấu của chúng ta sẽ bị giảm đi. Ngược lại nếu chúng ta nhớ rằng mọi người chung quanh đều phải trải qua đau khổ thì cái nhìn thực tế nầy sẽ làm tăng ý chí và khả năng của chúng ta để chúng ta đối phó với nghịch cảnh.

Thật ra với thái độ nầy mỗi khó khăn gặp phải được xem như là một cơ hội ngàn vàng để chúng ta làm tăng trưởng phần tinh thần của chính mình.

Do đó chúng ta phải tranh đấu dần dần để trở nên từ bi hơn như vậy chúng ta mới có thể phát triển tình thương và giúp đỡ những ai đang đau khổ. Kết quả là sức mạnh nội tâm và sự thanh thản của chúng ta được tăng lên.

http://i304.photobucket.com/albums/nn175/uafs8/ChuTieu13.jpg

 Chúng ta cần Tình thương

Lý do tại sao tình thương và lòng từ bi được xem như là điều hạnh phúc nhất bởi vì trong tâm khảm mỗi chúng ta đều mong muốn được thương yêu. Tình thương rất cần thiết cho sự sinh tồn của con người. Đó là mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau rất sâu sắc giữa con người với con người. Không cần biết là người đó có khả năng như thế nào và cho dù người đó có giỏi đến đâu đi nữa kẻ đó cũng không thể sống sót nếu chỉ có một mình. Một người có thể khỏe mạnh tráng kiện đến mức tối đa trong một khoảng thời gian nào đó nhưng một khi ngã bệnh hay lúc quá nhỏ hoặc quá già ta vẫn phải cần sự giúp đỡ của những người chung quanh .

Sự liên hệ phụ thuộc lẫn nhau là điều căn bản của luật tạo hóa. Không phải chỉ có loài người kể cả những côn trùng nhỏ bé nhất không có tôn giáo hay luật lệ chúng vẫn phải nương tựa vào nhau để mà được sống còn. Cả đến hiện tượng vật chất nhỏ bé nhất cũng phải bị chi phối bởi luật " phụ thuộc lẫn nhau" (interdependence).

Những hiện tượng trên trái đất như : mây biển rừng hoa lá cũng được cấu tạo bởi những năng lượng phụ thuộc lẫn nhau. Không có những năng lượng nầy thì chúng tan hoại ngay.

Bởi vì đời sống của con người là phụ thuộc lẫn nhau cho nên đây là một điều tự nhiên khi ai ai cũng cần tình thương. Vì vậy chúng ta cần ý thức trách nhiệm của mình trong việc đem lại an vui cho mọi người.

Nên hiểu rằng những thiếu thốn hay đau khổ của con người là thuộc về phần tinh thần vì thế chúng không thể giải quyết được bằng máy móc tinh vi vì vậy thật là một điều sai lầm khi ta tìm kiếm hạnh phúc bằng những thứ bên ngoài.

http://i33.tinypic.com/xoh5ad.jpg

Chúng ta nên nhìn lại để tìm kiếm cho đúng thứ mà ta cần cho hạnh phúc.

Nếu bỏ qua câu hỏi rắc rối về tạo hóa và sự tiến triển của vũ trụ chúng ta ít ra cũng đồng ý rằng mỗi chúng ta là một sản phẩm của cha mẹ chúng ta. Thông thường mỗi chúng ta có mặt nơi đây là vì cha mẹ chúng ta muốn nuôi dưỡng một đứa con cho đến lúc nó trưởng thành và có thể tự lập. Vì vậy ngay từ phút đầu thọ thai tình thương của cha mẹ dành cho chúng ta bắt nguồn từ lúc đó.

Hơn nữa chúng ta hoàn toàn nương tựa vào sự săn sóc của mẹ chúng ta ngay từ lúc ban đầu. Theo các khoa học gia tinh thần của người mẹ trong lúc mang thai có ảnh hưởng rất nhiều đến đứa trẻ trong bụng.

Sự thể hiện tình thương cũng rất quan trọng lúc đứa trẻ ra đời. Ngay từ buổi đầu việc đầu tiên chúng ta làm là tìm vú mẹ chúng ta tự nhiên thấy gần với mẹ và mẹ chúng ta phải cảm nhận được tình thương đó bà mới có thể lo bú mớm cho chúng ta một cách tốt đẹp; nếu bà cảm thấy tức giận hay bực tức thì sữa sẽ chảy không đều.

Kế đến là lúc tuổi khoảng 3 hay 4 đây là khoảng thời gian rất quan trọng cho việc phát triển bộ óc; trong lúc nầy sự gần gủi săn sóc rất cần cho sự phát triển bình thường của đứa trẻ. Nếu đứa trẻ không được ôm vào lòng không được trìu mến thương yêu thì sự phát triển của bộ óc đứa trẻ sẽ bị hư hao hoặc kiếm khuyết.

Đứa trẻ không thể sống sót nếu không có sự chăm nom của người khác vì vậy tình thương là món ăn cần thiết để nuôi dưỡng trẻ. Hạnh phúc của tuổi ấu thơ đều nhờ vào tình thương nhờ có tình thương mà đứa trẻ dẹp được những nỗi lo sợ và trưởng thành một cách lành mạnh.

Hiện tại có bao đứa trẻ lớn lên trong những gia đình không hạnh phúc. Nếu chúng không được thương yêu trọn vẹn thì sau nầy chúng ít khi nào thương được bố mẹ chúng và thường thì những đứa trẻ nầy không hiểu được thế nào là thương người khác. Thật là đáng điều đáng buồn!

http://3.bp.blogspot.com/_KCl1D9PE5Ec/SEz2xacXt9I/AAAAAAAAAhs/jEwgMWhEQkQ/s400/ChuTieu20.jpg

 Khi đứa trẻ lớn lên và đến trường chúng cần sự nâng đỡ nơi thầy cô. Thầy cô không phải chỉ có truyền đạt kiến thức mà còn phải chịu trách nhiệm về việc chuẩn bị cho đứa trẻ bước vào đời. Học sinh phải cảm nhận được sự tin cậy và kính trọng những gì chúng học được nơi thầy cô sẽ là một dấu ấn khó phai.

Ngược lại nếu thầy cô chỉ lo dạy về môn học mà không để ý gì đến tánh tình hạnh kiểm của học sinh thì thầy cô đó khó có thể dạy học lâu dài họ chỉ có thể dạy trong một thời gian ngắn thôi .
Cũng như khi một người bệnh gặp bác sĩ tận tâm niềm nở nhất là sự mong muốn họ mau khỏi bệnh nhờ vậy họ cảm thấy thoải mái với sự ân cần của y sĩ người nầy sẽ dễ dàng khỏi bệnh. Ngược lại nếu bác sĩ giỏi nhưng không tận tâm không ân cần niềm nở dù thuốc hay nhưng vì bệnh nhân không thoải mái nên việc lành bệnh cũng không mau chóng.

Kể cả khi chúng ta nói chuyện thường ngày nếu có người nói chuyện ân cần thân mật thì tức khắc chúng ta cảm thấy muốn nghe và muốn tiếp chuyện; câu chuyện sẽ trở nên hấp dẫn hơn cho dù đề tài không hay. Ngược lại nếu một người nói chuyện lạnh nhạt hay trả lời nhát gừng chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu và muốn mau mau kết thúc câu chuyện. Từ việc nhỏ cho đến việc lớn hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào tình cảm và sự quan tâm của người chung quanh.

Vừa rồi tôi có gặp những khoa học gia ở Mỹ họ bảo là mức độ về bệnh tâm thần ở đất nước họ đã tăng khoảng mười hai phần trăm trong dân số. Trong buổi bàn cãi chúng tôi nhận ra rằng bệnh tâm thần không phải do thiếu thốn vật chất mà ra mà lý do chánh là vì thiếu tình thương thiếu tình thân ái giữa con người với con người.

Qua những gì tôi viết trên đây một điều chắc chắn rõ ràng là : cho dù chúng ta có nhận thức được hay không về điều nầy sự cần thiết tình thương đã nằm sẵn trong huyết quản của chúng ta ngay từ buổi ban đầu. Người lớn và trẻ em đều hướng đến tình thương cho dù tình thương đó được mang đến từ một con vật hay từ một người mà bình thường ta vẫn xem như là thù địch.

Tôi tin rằng không một ai sanh ra mà không cần tình thương. Vài trường Triết đã công nhận rằng con người không phải chỉ thuần là thể xác. Tinh thần là chủ động trong việc cảm nhận được cái đẹp cái quý giá làm cho chúng ta có thể thương yêu.

http://www.giacngo.vn/UserImages/2010/04/05/1/trongtuan-1.jpg

 

 Phát triển lòng từ

Vài người bạn của tôi nói rằng tình thương và lòng từ bi rất tốt đẹp và kỳ diệu nhưng chúng không có chỗ đứng trong thế giới của chúng ta nơi mà lòng sân hận và thù hằn là một phần của con người và như vậy chúng ta luôn bị sân hận làm chủ. Điều nầy tôi không đồng ý.

Con người chúng ta hiện hữu với hình hài nầy trong khoảng gần một trăm ngàn năm. Tôi tin rằng trong khoảng thời gian đó nếu tinh thần chúng ta bị sân hận làm chủ thì dân số của con người đáng lý phải bị giảm đi. Nhưng cho đến hôm nay dù có những trận chiến dân số con người vẫn gia tăng hơn bao giờ hết.

Điều nầy chứng tỏ rằng tình thương và lòng từ vẫn chiếm ưu thế. Vì vậy những việc không hay là"tin tức" những việc làm từ bi trong đời sống hàng ngày bị coi như là điều tất nhiên và phần lớn bị lờ đi.

Theo kinh nghiệm của riêng tôi thì sự thăng bằng về mặt tinh thần và cơ thể mạnh khỏe có liên hệ mật thiết. Sự khích động và tức giận dễ làm chúng ta nhiễm bệnh . Ngược lại nếu tinh thần yên tịnh và tràn đầy những ý nghĩ tốt lành thì cơ thể ít có cơ hội bị bệnh hoạn tấn công.

Muốn được hạnh phúc chân thật thì cần phải có một tinh thần an lạc và để được tinh thần an lạc cần phải có lòng từ bi làm sao để chúng ta phát triển được lòng từ ? Chỉ nghĩ đến lòng từ bi thôi cũng chưa đủ chúng ta phải làm sao để chuyển hóa tâm niệm và hành động của mình trong đời sống hàng ngày .

Trước hết chúng ta phải biết rõ từ bi nghĩa là gì. Lòng từ cũng có nhiều hình thức và lắm lúc lẫn lộn với bám víu và ham muốn. Chẳng hạn tình thương của cha mẹ dành cho con cái thường có liên quan đến những nhu cầu tình cảm của riêng họ vì vậy tình thương không được hoàn toàn từ bi. Cũng vậy trong hôn nhân tình thương giữa hai vợ chồng--nhất là lúc ban đầu lúc mà cả hai chưa rõ những cá tánh sâu sắc của nhau--tình thương dựa vào bám víu hơn là đơn thuần thương yêu. Vì dục vọng của chúng ta quá mạnh nên người hôn phối dù có tánh xấu dưới mắt ta lúc bấy giờ người ấy thật là hoàn hảo. Hơn nữa ta lại có khuynh hướng khuếch trương những điều tốt nho nhỏ. Do đó khi mà tánh tình một trong hai người thay đổi thì người kia cảm thấy thất vọng vì chính tánh tình họ cũng có đổi thay. Đây là điều cho ta thấy tình yêu được thúc đẩy bởi những nhu cầu của cá nhân hơn là vì thương yêu kẻ khác.

Lòng từ bi chân thật không phải là một thứ tình thương có qua có lại mà là một sự cam kết chắc chắn dựa trên lý trí. Vì vậy cho dù kẻ thọ nhận cư xử không tốt một hành động từ bi thật sự sẽ không hề thay đổi .

Dĩ nhiên là phát triển lòng từ bi chân thật sẽ không phải là một việc dễ dàng. Lúc bắt đầu thực tập chúng ta nên nhìn vào những điểm sau đây :

Dù người đẹp hay người xấu người dễ thương hay kẻ phá hoại chúng ta đều là con người như nhau cả. Và vì là con người nên chúng ta đều muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ. Hơn nữa mỗi người có quyền tự do riêng để tránh đau khổ và hưởng sung sướng. Bây giờ bạn chấp nhận là tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc và vì vậy bạn sẽ tự dưng cảm thông được với mọi người và cảm thấy gần gủi họ hơn. Thực tập điều nầy sẽ làm cho tinh thần bạn cảm nhận được tình vị tha và bạn sẽ phát triển được lòng tôn kính nơi mọi người chung quanh : muốn giúp họ bớt khổ đau. Vì là con người nên ai ai cũng phải trải qua những kinh nghiệm vui buồn sung sướng và đau khổ vì vậy không lý do gì bạn lại không thương được những người có những hành động ích kỷ.

Trong khả năng của chúng ta để thực tập lòng từ bi chúng ta phải cần có kiên nhẫn và thời gian. Tận trong tiềm thức của chúng ta lúc nào cái "Tôi" cũng chiếm ưu thế và vì cái "Tôi" đó mà lòng từ bị giới hạn. Thật ra lòng từ bi chân thật chỉ được thể hiện khi mà cái "Tôi" bị diệt bỏ. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta không làm chi được cái gì cũng có bắt đầu thực tập và tiến triển là điều có thể làm được.

 

http://www.hoasentrang.vn/products/images/6951401225934360.jpg

Làm thế nào để bắt đầu

Để bắt đầu chúng ta phải loại bỏ sân hận. Như chúng ta đã biết sân hận là những năng lực tình cảm rất mạnh chúng có thể hoàn toàn áp đảo tinh thần chúng ta. Nhưng chúng ta có thể làm chủ được chúng. Nếu không chúng sẽ làm cho ta bị điêu đứng và việc tìm kiếm hạnh phúc với một tinh thần thương yêu sẽ khó mà thực hiện được.

Trước hết hãy khám xét xem cái giận có tốt không. Đôi lúc khi chúng ta chán nản vì một hoàn cảnh nào đó cái giận dường như giúp chúng ta mạnh hơn tự tin hơn và có quyết tâm. Lúc nầy chúng ta phải kiểm điểm trạng thái tinh thần của mình một cách cẩn trọng. Thật sự cái giận cho ta thêm năng lực nếu chúng ta khảo sát tỉ mỉ năng lượng của cái giận ta khám phá ra rằng năng lượng nầy rất là mù quáng : chúng ta không biết được kết quả của nó sẽ là tốt hay xấu.

Bởi vì cái giận che lấp đi phần duy lý của bộ óc. Vì vậy năng lượng của cái giận không thể được tín nhiệm. Nó có sức hủy hoại rất lớn và tạo nên nhiều hành động đáng tiếc. Hơn nữa nếu cái giận tăng lên đến mức tối đa thì một người sẽ trở nên điên loạn làm những việc có hại cho mình và cho người.

Tuy nhiên chúng ta có thể phát triển một năng lượng khác cũng mạnh nhưng kiềm chế được để mà thích ứng với hoàn cảnh khó khăn.

Năng lượng nầy có được phát xuất từ cách cư xử với lòng từ bi sự kiên nhẫn và lý trí. Đây là những thuốc giải hiệu nghiệm cho việc chữa trị cái giận. Đáng tiếc thay bao người hiểu nhầm về những điều nầy và cho đấy là biểu tượng của sự hèn nhát yếu đuối. Tôi thì nghĩ ngược lại : chúng chính là những dấu hiệu cho một sức mạnh nội tâm. Trạng thái tự nhiên của lòng từ bi là sự dịu dàng hòa nhã mềm mỏng nhưng có năng lượng rất mạnh mẻ. Những kẻ dễ tức giận là những người thiếu kiên nhẫn dễ bất an và không ổn định. Do đó đối với tôi sự tức giận là một dấu hiệu của yếu đuối.

Vì vậy khi vấn đề xuất hiện nên cố gắng giữ bình tĩnh với một hành động chân thành cho kết quả được công bằng. Dĩ nhiên là sẽ có những kẻ lợi dụng bạn khi bạn giữ không bám víu và hành vi nầy chỉ khuyến khích họ thêm hung hăng thì bạn phải lên tiếng cho họ biết quan điểm của mình và nếu cần thì tìm biện pháp để đối phó nhưng tuyệt nhiên hành động không có sự tức giận hay ác ý ẩn bên trong.

Bạn nên hiểu rằng cho dù kẻ đối nghịch đang hảm hại bạn cuối cùng thì hành động nầy cũng chỉ gây hại cho chính họ thôi. Để kiểm soát sự trả đũa của bạn vì íck kỷ bạn cần phải kêu gọi đến lòng mong muốn thực tập hạnh từ bi và nhờ đó mà cố gằng giúp đỡ kẻ kia khỏi bị khổ não do chính hành động không hay của họ gây ra.

Hành động trả đũa thường dựa trên năng lực giận dữ với sự mù quáng cho nên sẽ không có kết quả tốt. Vì thế khi bạn chọn lựa cách đối phó một cách từ tốn có ích lợi cho cả đôi bên thì kết quả sẽ chính xác có hiệu lực hơn.

http://lh4.ggpht.com/thanhtu77/R43uQBa-0II/AAAAAAAACWI/qTJN3vUZIvs/s800/bantay1312313.jpg

Bạn và kẻ thù

Tôi muốn nhấn mạnh rằng chỉ suy nghĩ về : lòng từ sự kiên nhẫn sẽ không ích lợi gì nếu bạn không thực tập chúng. Muốn thực tập những điều nầy thì hay nhất là những lúc khó khăn xuất hiện hãy thử thực tập chúng.

Và ai là người cho ta những cơ hội khó khăn để thực tập? Dĩ nhiên là không phải bạn chúng ta mà là kẻ thù của chúng ta. Họ là những người gây cho ta nhiều khó khăn nhất. Và nếu ta thật sự muốn học hỏi thì hãy xem kẻ thù như là những người thầy giỏi nhất!
Người thực tập hạnh từ bi và tình thương cần phải thực tập luôn sự khoan dung và như vậy thì kẻ thù không thể thiếu được. Chúng ta phải cảm ơn kẻ thù vì nhờ họ mà chúng ta phát triển được sự an bình của tinh thần. Thêm nữa trong những trường hợp thuộc cá nhân hay công cộng có một thay đổi kẻ thù cũng có thể trở thành bạn.

Sân hận rất có hại chúng ta cần phải thực tập để làm giảm bớt năng lực của chúng nơi phần tinh thần nếu không chúng sẽ tiếp tục làm phiền và gây khó khăn cho ta trong việc thực tập sự an lạc. Sân Hận là kẻ thù thật sự của chúng ta. Đây là những năng lực mà chúng ta cần phải đối phó.

Thật là tự nhiên khi chúng ta ai ai cũng muốn có bạn. Tôi hay nói đùa là nếu bạn thật sự muốn ích kỷ thì bạn cần phải nên vị tha. Bạn cần phải giúp đỡ săn sóc mọi người lo cho họ làm bạn với họ mang lại nụ cười cho họ. Kết quả ?
Khi mà cần sự giúp đỡ bạn sẽ tìm thấy bao là người sẵn sàng! Ngược lại nếu bạn không lo gì đến hạnh phúc của kẻ khác sau nầy bạn sẽ là kẻ thua thiệt.

Có người nói tình bạn hay mang đến cãi vã giận dữ ganh tyﬠvà tranh dành ? Tôi không đồng ý về điểm nầy. Tôi nhận thấy chỉ có tình thương mới mang lại cho chúng ta những người bạn thân đúng nghĩa.

Trong xã hội vật chất hiện nay nếu bạn có tiền và có địa vị thì dường như bạn có rất nhiều bạn. Nhưng họ đâu phải là bạn của bạn họ là bạn của tiền và địa vị của bạn. Khi mà bạn trắng tay mất hết quyền lực thì không còn tìm ra những người bạn nầy nữa họ biến mất .

Thực tế thì khi mọi việc hanh thông chúng ta cảm thấy tự tin và có thể tự lo chúng ta cảm thấy mình không cần bạn; nhưng khi địa vị và sức khỏe suy dần thì chúng ta mới biết là mình lầm. Lúc ấy ta sẽ biết được ai hữu dụng và ai vô dụng. Và để chuẩn bị cho lúc ấy để cho có được những bạn tốt ta cần phải thực tập tình vị tha ngay từ bây giờ.

Tôi hay nói là tôi lúc nào cũng cần bạn càng nhiều càng tốt và mọi người hay cười tôi về điều nầy. Tôi yêu những nụ cười. Có rất nhiều nụ cười nụ cười mai mỉa nụ cười gỉa tạo nụ cười ngoại giao. Có những nụ cười không làm chúng ta hài lòng mà đôi lúc còn làm ta sợ hãi nghi ngờ phải không nào ? Nhưng một nụ cười chân thật mang lại cho chúng ta bao là sự vui tươi và tôi tin là đây là đặc điểm của con người. Nếu đây là nụ cười mà ta mong muốn thì chính chúng ta phải làm sao để cho chúng được hiện diện.

http://img.news.zing.vn/img/66/t66905.jpg

Lòng từ bi và thế giới

Để kết luận tôi muốn nói thêm như sau : hạnh phúc cá nhân cũng góp phần không nhỏ trong việc làm cho xã hội con người tốt đẹp hơn.

Bởi vì tất cả chúng ta đều cần tình thương vì thế khi gặp một người dù trong trường hợp nào chúng ta cũng có thể coi người đó như là anh chị em của ta.

Cho dù đấy là một khuôn mặt mới cách cư xử cách ăn mặc cho dù có khác biệt thật ra không có gì cách biệt giữa ta và người. Những nhu cầu căn bản tự nhiên của mọi người đều giống nhau. Vì vậy thật là điên rồ khi mà chỉ bám vào những khác biệt bên ngoài.

Cuối cùng thì con người chỉ là một và trái đất nhỏ bé nầy là nhà của chúng ta.

Để bảo vệ căn nhà của chúng ta thì mỗi một người trong chúng ta cần phải kinh nghiệm được ý nghĩa của lòng vị tha.

Lòng ích kỷ làm cho ta chỉ biết lừa dối và bạc đãi người khác muốn diệt trừ tính ích kỷ thì chỉ có cách phát triển tình vị tha. Nếu bạn thành thật và có tấm lòng rộng mở tự nhiên bạn sẽ cảm nhận được niềm tự tin hiểu rõ giá trị của chính mình và sẽ không còn sợ hãi nữa.

Tôi tin rằng mỗi giai cấp xã hội -- bình dân bộ lạc quốc gia và ngoại quốc --chìa khóa cho một thế giới hạnh phúc an lạc là phát triển lòng từ bi. Chúng ta không cần phải theo một tôn giáo nào hay phải tin vào một lý tưởng gì chỉ cần mỗi một người trong chúng ta phát triển hết những đức tính tốt của con người là đủ.

Tôi cố gắng cư xử với những người tôi gặp như một người bạn lâu năm. Điều nầy mang lại cho tôi một niềm vui chân chất. Và đây là lúc để chúng ta tạo một thế giới hạnh phúc hơn an lạc hơn.

http://www.phunuonline.com.vn/giaitri/2010/Picture/Hoc/250210/Ban_ve_hanh_phuc_QQQ%5B1%5D.jpg

Nguồn : vnthuquan

More...