HUESA Shambala Thailand

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

HUESA Shambala Thailand

 

 

 

 

 

 

 

More...

XEM TRUYỀN HÌHH VINH LONG

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

XEM TRUYỀN HÌHH VINH LONG

alt

 

alt

alt

 

 

  

 

More...

Thị trấn "Đại gia" nấu ăn hoàn toàn bằng Nước Tinh Khiết !

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

Thị trấn "Đại gia" nấu ăn hoàn toàn bằng Nước Tinh Khiết !

 

Không phải vì giàu có nên muốn chơi trội để "lấy tiếng" từ nhiều năm qua hàng trăm hộ gia đình ở thị trấn Sông Vệ huyện Tư Nghĩa Quảng Ngãi phải mua nước tinh khiết đóng bình để sử dụng nấu ăn uống chỉ vì nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm quá nặng.

Thị trấn

Thị trấn "đại gia" nấu ăn bằng… nước tinh khiết

Những đại gia "bất đắc dĩ"

Nằm ngay cửa ngõ phía nam của TP Quảng Ngãi và kinh tế cũng chỉ xếp vào loại "thường thường" so với những trung tâm huyện lỵ khác ở vùng đồng bằng của tỉnh thế nhưng gần 10 năm qua thị trấn Sông Vệ là địa phương duy nhất ở Quảng Ngãi và có lẽ cả miền Trung mà ước trên 70% gia đình ở đây phải dùng máy lọc nước tinh khiết hoặc mua nước uống tinh khiết đóng bình để nấu ăn uống. Nguyên nhân là do nguồn nước sinh hoạt nơi đây bị ô nhiễm quá nặng. Cho nên thà tốn tiền mua ước tinh khiết để nấu ăn cho an toàn còn hơn là nếu bị bệnh tật thì số tiền chi phí điều  trị cũng không biết là bao nhiêu tiền mới đủ.

Gia đình nào có điều kiện và biết tính toán thì đã nhanh chóng lắp đặt hẳn một hệ thống xử lý nước riêng vừa tự kiểm soát  chất lượng nước sạch do tự sản xuất lấy phần nước lọc dôi dư thì chiết bán lại cho hộ xung quanh. Những gia khác khó khăn thì cùng nhau hùn tiền mua  máy lọc dùng chung vậy.
 
Một số người dân ở đây cho biết trước đây đã xảy ra tình trạng này nhưng mức độ không nặng như bây giờ. Hơn 10 năm trở lại đây dân số tăng nên nguồn nước ngầm bị khai thác nhiều dẫn đến cạn kiệt dần làm tình trạng ô nhiễm ngày càng trầm trọng đặc biệt là vào mùa nắng nóng. 
Lớp váng nổi trên mặt nước tại một bể lọc ở nhà anh Tạ Văn Dung.
Lớp váng nổi trên mặt nước tại một bể lọc ở nhà anh Tạ Văn Dung.
Anh Võ Hải Tân lắc đầu: "Đừng nói gì đến dùng nấu ăn uống; ngay cả chỉ để rửa tắm giặt nếu không sử dụng bể lọc để lọc thì cũng không ai đủ can đảm để dùng. Bởi lẽ nước rất đục và trên mặt còn nổi một lớp váng màu vàng giống như lớp mỡ".

"Ngay cả sau khi đã qua bể lọc đến 5 lớp thế nhưng chỉ cần để vài giờ thì dưới đáy vật chứa đựng đóng một lớp bột màu trắng và vẫn có mùi tanh như nước gỉ sắt" anh Tạ Văn Dung (41 tuổi) người dân ở khu dân cư mới cho biết thêm.


Chồng đi làm nghề ở miền nam các con lớn cũng đã trưởng thành và ra làm việc ở xa nên nhà chỉ còn 2 mẹ con. Thế nhưng mỗi tháng chị Võ Thị Xuân Phụng ở khối 1 cũng phải sử dụng hết 12 bình nước loại 22 lít/bình. Theo giá bán hiện nay là 14.000 đồng/bình thì mỗi tháng riêng khoản tiền mua nước của 2 mẹ con cũng mất 168.000 đồng.


Chị Phụng than thở: "Tốn kém nhưng cũng đành phải "cắn răng bóp bụng" mà chịu còn hơn phải vào bệnh viện vì uống nguồn nước bị ô nhiễm".
Dù chỉ để rửa  giặt nhưng người dân cũng phải dùng bể lọc để lọc mới sử dụng được
Dù chỉ để rửa giặt nhưng người dân cũng phải dùng bể lọc để lọc mới sử dụng được
Được biết trước đây cũng như nhiều người khác ở thị trấn để có nước nấu ăn uống hàng ngày chị Phụng phải vào các giếng ở khu vực phía trong để gánh. Thế nhưng kể từ khi chứng kiến 3 người chị ruột của mình lần lượt đi mổ vì bị sỏi mật gan... riêng người chị kế là Võ Thị Xuân Hùng đã mổ đến lần thứ 4 thì chị Phụng đâm ra sợ. Vì vậy mà nhiều năm qua chị Phụng chuyển sang mua nước tinh khiết đóng bình để sử dụng nấu ăn dù kinh tế của gia đình cũng không mấy khá giả.

Còn chị Lê Thị Nô (41 tuổi) thì để tiết kiệm ngoài sử dụng nước bình để nấu hàng ngày chị mua thêm 2-3 gánh nước từ nơi khác chở về với giá 2-4000 đồng/gánh để rửa rau quả thực phẩm... Không riêng gì 2 trường hợp trên mà hàng trăm hộ gia đình khác trong thị trấn đều dùng "sang" như vậy.    


Dự án nước sạch "án binh bất động"


Theo lãnh đạo UBND thị trấn Sông Vệ nguồn nước sinh hoạt ở khu vực trên bị ô nhiễm không phải mới xảy ra mà kéo dài hàng chục năm nay và ngày trở nên trầm trọng hơn. Sự việc này chính quyền cũng đã hàng chục lần báo cáo lên huyện. Không những vậy trong những lần Đoàn đại biểu Quốc hội của tỉnh về tiếp xúc cử tri địa phương cũng đã phản ánh thế nhưng chẳng thấy gì ngoài sự ghi nhận và lời hứa.


Được biết vào năm 2001 UBND tỉnh đã chỉ đạo cho Cty cấp thoát nước tỉnh tiến hành triển khai xây dựng công trình nước sạch để cung cấp cho người dân thị trấn. Thế nhưng vào thời điểm lúc bấy giờ do thị trấn chưa được qui hoạch chi tiết nên không thể tiến hành. Đến năm 2004 khi qui hoạch chi tiết được tỉnh phê duyệt thế nhưng không hiểu sao dự án này vẫn "án binh bất động" cho đến nay.

Cũng như nhiều hộ khác  suốt 4 năm qua gia đình em Đặng Thị Thanh Nhàn  ở khối 1 phải sử dụng nước bình để nấu ăn.
Cũng như nhiều hộ khác suốt 4 năm qua gia đình em Đặng Thị Thanh Nhàn ở khối 1 phải sử dụng nước bình để nấu ăn.
Nhiều lần UBND thị trấn đã trích tiền ngân sách để làm xét nghiệm nguồn nước xem mức độ độc hại như thế nào.Theo đó ngoài vị tanh của sắt nhiều thành phần có trong mẫu của nguồn nước sinh hoạt tại đây đã vượt mức cho phép: Hàm lượng sắt là 4 62 mg/l gấp gần 10 lần (mức cho phép là 0 5 mg/l); chỉ tiêu màu sắc  là 232 TCU gấp hơn 21 lần (tiêu chuẩn cho phép là 15 TCU). Điều đáng lo ngại hơn là  số lượng vi khuẩn Colifoms quá cao: 79 vi khuẩn/100ml so với mức cho phép là 50 vi khuẩn/100ml…Nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gần 700 hộ chiếm 70% số hộ toàn thị trấn lâm vào cảnh dở khóc dở cười.

Theo cán bộ trạm y tế của địa phương thị trấn Sông Vệ có 3 khu vực dân cư là Sông Vệ An Bàng và Vạn Mỹ thì riêng số lượng người mắc bệnh về đường ruột tại khu vực Sông Vệ luôn cao gấp 2-3 lần so với các nơi còn lại. Vào năm 2001 khi về tiếp nhận công tác tại đây nhận thấy nguồn nước không đảm bảo nên trạm cũng đã trích tiền để làm xét nghiệm. Kết quả nhiều chất độc hại đều vượt so với tiêu chuẩn cho phép. Vì thế trạm đã có thông báo để khuyến cáo người dân trong khu vực không sử dụng nguồn nước này để nấu ăn uống…
 
Tham khảo từ số xaluan.com

 

More...

Hoa Bướm Sân Trường

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

                           Hoa Bướm Sân Trường


                    HoaBuomSanTruong.jpg  27 KB

Dưới tàn bóng mát phượng xanh
Giờ chơi đã đến trống canh nhịp đều
Nữ sinh cười nói dễ yêu
Quần xanh áo trắng lắm điều vấn vương

Nhã Tầm mái tóc dễ thương
Kéo Tơ thắt bím nơ hường xinh xinh
Tóc Thề lỗi hẹn mấy tình 
Mi Nhon cắt tém nét nhìn phương tây

Lụa Là chiếc áo vạt bay
Sa Ten quần lãnh mảnh mai lỗi thời
Bài Thơ nón lá lả lơi
Tai Bèo theo mode mặn mòi nắng sương

Ve Sầu luyến Phượng thiểu  buồn
Bướm hay lả lướt gieo vương thả phiền
Ong ôm một nỗi niềm riêng
Si tình má lúm đồng tiền Ô Mai

Chua chua ngọt ngọt cay cay
Ngọt như ong mật rót tai tỏ tình
Chua như cái liếc xéo nhìn
Nữ sinh cay cú mặc tình bướm ong

 

Hồ Mai Ngọc Mai

Tháng Bảy 2009


More...

Khoa học và ngụy khoa học - Phần 1

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

Khoa học và ngụy khoa học: (Phần 1)
Một vài đặc điểm và khác biệt cần biết

Nguyễn Văn Tuấn

Việc ứng dụng các nguyên lí khoa học vào mục tiêu cải thiện cuộc sống của con người có một lịch sử lâu dài. Dấu vết của ứng dụng khoa học trong đời sống con người có thể tìm thấy trong nền văn minh Lưỡng hà tức khoảng 4500 năm trước đây khi mà người Sumerian sáng tạo ra chữ viết toán học lịch và thiên văn học để cải tiến nông nghiệp chính trị và tôn giáo. Tuy nhiên việc ứng dụng phương pháp khoa học vào đời sống con người chỉ thực sự phát triển mạnh kể từ thế kỷ 14 trở đi. Có thể gọi đó là một thời kỳ cách mạng khoa học.

Nói "cách mạng" cũng không ngoa bởi vì các tư tưởng khoa học đã giải phóng con người khỏi những tăm tối (Dark Age) ở thời kỳ mà các ý thức hệ tôn giáo mộng mị thống trị niềm tin của con người qua hàng ngàn năm. Cho đến nay ai cũng phải công nhận rằng chính khoa học xây dựng nên thế giới hiện đại. Khoa học cho chúng ta xe ô-tô xe tăng máy bay điện lực điện thoại máy điện toán (computers) liên mạng (internet) v.v.. Khoa học giúp cho con người du hành vào mặt trăng. Khoa học góp phần làm tăng tuổi thọ của con người và con người sống lâu gấp hai lần so với 150 năm trước đây. Danh sách này có thể còn dài nhưng thiết tưởng những lợi ích của khoa học như thế cũng đủ để thấy sự đóng góp của khoa học vào xã hội cực kỳ to lớn và nó là một bộ phận không thiếu được trong xã hội hiện đại.

Trong những năm gần đây người ta thấy những thông tin liên quan đến khoa học (hay với danh nghĩa khoa học) và y khoa nói riêng xuất hiện trên báo chí và hệ thống truyền thông đại chúng với một tần số cao chưa bao giờ thấy trước đó. Hầu như hàng ngày công chúng được cung cấp hàng chục bản tin về một khám phá mới nhất hay một phát hiện có tầm cỡ hay một thuật chữa trị tân tiến hay một con số làm sửng sốt đến cả những người thờ ơ với khoa học. Nhiều khi các bản tin được truyền đi với vài thay đổi về những chi tiết nhỏ hay thậm chí những chi tiết mang tính đối nghịch nhau. Những mâu thuẫn như thế tăng theo cấp số nhân và cường độ xuất hiện của những bản tin như thế cao đến nổi người ta khó mà phân biệt được đâu là thật và đâu là giả. Nhiều khi người ta chỉ xuôi tay theo một võ đoán. Vì thế sự dồi dào của thông tin trên hình thức thực ra có thể lại là một sự nghèo nàn thông tin về bản chất.

Những loại thông tin sai lạc huyễn hoặc đã và đang xâm chiếm vào xã hội và có cơ may biến thành một loại "tôn giáo" mới và chúng có thể làm cho người ta lẫn lộn giữa sự thật và hoang đường giữa thực tế và mộng mị giữa cái khả dĩ và cái không tưởng. Thực vậy từ tôn giáo thần thoại dị đoan chủ nghĩa thần bí những niềm tin về Thời đại Mới (New Age) đến những tin tưởng vô lí đã và đang có mặt trong mọi thành phần xã hội.

Có người sẽ nghĩ là những chuyện như thế là thuộc về thời Trung cổ nhưng những con số thống kê gần đây cho thấy những niềm tin phi khoa học như thế đang phát triển mạnh trong thế kỷ 20 và có thể cả thế kỷ 21. Một cuộc thăm dò ý kiến trong 1236 người Mỹ do hãng Gallup tổ chức năm 1990 cho thấy: 52% người tin vào thuật chiêm tinh 46% tin vào tri giác ngoại cảm (ESP) 22% tin rằng có người từ một hành tinh khác ghé thăm trái đất 42% tin rằng con người có thể liên lạc với người chết 35% người tin rằng có quỉ và 67% có kinh nghiệm siêu linh.

Một mẫu số chung của những thông tin loại này là những người sản sinh ra chúng thường hay dựa hay nhân danh vào hai chữ "khoa học". Hai chữ "khoa học" thường nhận được nhiều sự kính mến trong công chúng. Ngay cả những người dù không am hiểu nhiều về khoa học cũng thấy có một cái gì đó đặc biệt trong khoa học và phương pháp khoa học. Chỉ cần đặt hai chữ "khoa học" vào trước một lời phát biểu hay một lí lẽ là người ta cảm nhận ngay rằng đây là những phát biểu hay lí lẽ có thể tin cậy được.

Một quảng cáo về một sản phẩm nào đó cho rằng đã được kiểm chứng bằng khoa học và cho thấy sản phẩm này tốt hơn các sản phẩm đang bày bán. Điều này ám chỉ rằng quảng cáo này đáng tin cậy không còn bàn cãi gì thêm cả. Gần đây một quảng cáo khác cho rằng các nhà khoa học tin tưởng rằng những gì viết trong Kinh Thánh là sự thật! Điều này hàm ý cho rằng nhà khoa học có uy tín và thẩm quyền trong việc thẩm định giá trị của Kinh Thánh.

Vấn đề được đặt ra là những câu hỏi tại sao: tại sao lại có những mâu thuẫn trong các thông tin liên quan đến khoa học; tại sao người ta lại tin vào những điều càn rỡ quái đảng phi lí; tại sao người ta lại tin vào những lí lẽ mà tên gọi của chúng thường được nhét vào hai chữ khoa học đằng trước? Trả lời những câu hỏi này không phải là một việc dễ dàng vì có nhiều nguyên nhân cho hiện tượng trên. Nhưng một trong những nguyên nhân đó là sự lạm dụng khoa học và nhất là tình trạng lẫn lộn giữa khoa học (science) và ngụy khoa học (pseudoscience). Đến đây thì câu hỏi được đặt ra: thế nào là khoa học và thế nào là ngụy khoa học?

Nói một cách ngắn gọn khoa học là tập hợp những phương pháp trí tuệ và phương pháp thực tiễn dùng để diễn tả và giải thích những hiện tượng quan sát được hay suy đoán được trong quá khứ hay hiện tại nhằm xây dựng một hệ thống tri thức mà chúng ta có thể bác bỏ hay xác nhận được. Khoa học là một phương pháp suy nghĩ và hành động nhằm vào mục đích hiểu và cảm nhận được thế giới chung quanh một cách trực tiếp hay gián tiếp quá khứ hay hiện tại. Những phương pháp trí tuệ bao gồm linh cảm ước đoán tư tưởng giả thuyết lí thuyết và mô hình. Những phương pháp thực tiễn bao gồm bối cảnh của nghiên cứu thu thập dữ kiện hệ thống hóa dữ kiện cộng tác cùng đồng nghiệp thí nghiệm tìm tòi và khám phá phân tích thống kê viết báo cáo khoa học trình bày trong các hội nghị khoa học và công bố kết quả nghiên cứu.

Khoa học dựa vào sự thật (facts). Những sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Khoa học dựa vào những sự thật có thể thấy có thể nghe có thể sờ được chứ không dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay suy luận theo cảm tính. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật mà là sự thật có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Những sự thật này phải được thu thập (i) có tổ chức trực tiếp và khách quan; (ii) độc lập với lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng cho suy luận.

Tuy nhiên cũng như mọi hiện tượng khác phát triển của khoa học thường phải đi đôi với một phong trào khoa học giả tạo hay ngụy khoa học. Ngụy khoa học cũng giống như ngụy biện tức là những phát biểu của ngụy khoa học thường là những lí lẽ mà bề ngoài xem ra có vẻ đúng hợp lí nhưng sự thật là sai để rút ra những kết luận xuyên tạc sự thật.

Thực ra đối với giới chuyên môn và khoa bảng họ không quan tâm đến ngụy khoa học vì họ cho đó là những trò chơi giải trí và họ xem những người làm việc theo ngụy khoa học là những diễn viên múa rối lố bịch có chức năng chính là đóng hài kịch cho xã hội mua vui. Nhưng thiết tưởng đó là một thái độ thụ động và hậu quả có thể rất xấu vì ngụy khoa học có thể trở nên cực kỳ nguy hiểm. Trong quá khứ ngụy khoa học đã từng xâm nhập vào chính trị và gây ra nhiều cuộc tàn sát đẩm máu (như trong thời Hitler và thuyết siêu chủng tộc). Ngụy khoa học còn có thể xâm nhập vào học đường và có thể làm băng hoại con em chúng ta. Ngụy khoa học vì tính đơn giản của nó còn làm cho chúng ta trở nên nô lệ với những cái tầm thường.

Vì thế một trong những kỹ năng của một công dân trong xã hội dân chủ hiện đại là cần phải phân biệt đâu là những giá trị thuộc về khoa học và đâu là những giá trị thuộc phạm trù ngụy khoa học. Vả lại một công chúng hiểu biết khoa học và công nghệ cùng với những hạn chế và ý nghĩa của khoa học sẽ là một lực lượng hùng hậu để bẻ gẫy những ngụy biện của giới ngụy khoa học. Nhưng làm thế nào để phân biệt được khoa học với ngụy khoa học? Việc trước tiên là chúng ta phải định nghĩa thế nào là khoa học chân chính (mà trong bài viết này sẽ đề cập là "khoa học"). Trong quá khứ đã có quá nhiều học giả viết và tranh luận về một truyền thống văn hóa mà người ta gọi là khoa học. Những tác giả lừng danh như Eddington Popper Kuhn Cohen Losee Woolgar ... đã từng viết nhiều về lịch sử và đặc tính của khoa học. Ở đây người viết bài này không muốn lập lại những điều đã có trong sách giáo khoa mà chỉ muốn đưa ra một vài đặc tính mà ai cũng có thể nhận thấy được thế nào là khoa học và thế nào là ngụy khoa học.

Nhận dạng là phương cách xác thực nhất để phân biệt khoa học với nguỵ khoa học nhận dạng càng nhiều càng tốt những gì thực và đối chiếu với những gì giả tạo. Khi người phát biểu nói "biết khoa học" điều này không có nghĩa là người đó chỉ biết những dữ kiện khoa học (ví dụ như khoảng cách giữa trái đất và mặt trời tuổi của trái đất phân biệt giữa loài động vật có vú và loài bò sát v.v.) mà phải biết về bản chất của khoa học tức là những tiêu chuẩn về bằng chứng kế hoạch tiến hành một thí nghiệm có ý nghĩa xem xét và cân nhắc những tình huống khác nhau việc thử nghiệm giả thuyết củng cố hay đề ra một lí thuyết v.v. Nói tóm lại là biết những khía cạnh về phương pháp khoa học mà các nhà khoa học dùng chúng để rút ra những kết luận chính xác đáng tin cậy và có ý nghĩa về những hiện tượng chung quanh chúng ta.

Do đó cần phải xem xét những dấu ấn của ngụy khoa học. Sự vá lấp những sự thật bằng những điều huyễn hoặc và vô duyên là những điều rất dễ dàng nhận dạng. Trong quá khứ đã có nhiều người viết về những đặc tính của ngụy khoa học để cảnh báo học sinh và sinh viên nhưng thiết tưởng trong các tác giả đó Tiến sĩ Rory Coker giáo sư Vật lí thuộc Trường Đại học Texas (Austin) là một trong những người đã làm một cách đầy đủ nhất. Trong một bài viết ngắn "Distinguishing science and pseudoscience" Giáo sư Coker đã thống kê những đặc điểm của ngụy khoa học một cách xúc tích nhưng dễ hiểu. Bài viết này một phần lớn dựa vào những ý của Giáo sư Coker nhưng thêm vào đó là những nhận thức riêng của người viết qua kinh nghiệm cá nhân.

Cần nói thêm là những đặc tính của ngụy khoa học được trình bày dưới đây không phải là một danh sách đầy đủ nhưng ít ra chúng ta cũng có một ý niệm khá rõ ràng về giới làm công tác khoa học. Nếu một hay một số đặc tính này hiện diện trong bất cứ một tài liệu nào thì đó là triệu chứng của ngụy khoa học. Mặt khác nếu một tài liệu không có những đặc tính đó vẫn có thể là một ngụy khoa học bởi vì nhà ngụy khoa học có thể đã sáng chế ra một cách thức mới để lường gạt chính họ. Những đặc tính dưới đây là một số điều kiện đủ hơn là những điều kiện cần để nhận diện ngụy khoa học.

  • Thứ nhất giới ngụy khoa học thường có khuynh hướng lãnh đạm thờ ơ trước sự thật và cơ sở lập luận. Chúng ta biết rằng những nhà viết tiểu thuyết hay sáng chế ra những "sự thật ma" - những "sự thật" mà Norman Mailer gọi một cách dí dỏm và văn chương là "factoid" (tức giống-sự-thật) mà không cần phải đi đâu xa để tìm hiểu thực tế ra làm sao. Ấy thế mà cái cách làm việc của những nhà viết tiểu thuyết đó lại được giới làm ngụy khoa học trân trọng. Nhà ngụy khoa học chẳng cần tốn công đi vào thực tế để thu thập dữ kiện (data) thật mà chỉ đưa ra những dữ kiện ma và từ đó đúc kết thành kết luận. Một khi đã có kết luận họ cũng chẳng cần phải duyệt lại kết luận đó đúng hay sai. Các sách về khoa học luôn luôn được cập nhật hóa đều đặn chiếu theo những dữ kiện mới; ngược lại sách của giới ngụy khoa học thì chẳng bao giờ thay đổi cứ hết tháng này sang năm nọ vẫn những dữ kiện ma vẫn những kết luận cứng như đá.

  • Thứ hai những "nghiên cứu" ngụy khoa học hầu như lúc nào cũng mang tính rời rạc chấp nối. Tức là nhà ngụy khoa học chỉ cắt xén một mớ bản tin trong các tờ báo dành cho công chúng thu thập những tin đồn đọc những tài liệu ngụy khoa học khác hay trích dẫn từ kinh thánh hay những chuyện thần thoại. Họ cũng chẳng thèm tốn công kiểm tra nguồn gốc và tính chính xác của tài liệu mà họ dùng. Nhà ngụy khoa học hầu như không bao giờ làm những cuộc điều tra khoa học cho có hệ thống và độc lập trước khi kết luận mà thường hay kết luận trước khi thu thập dữ kiện.

  • Thứ ba giới làm ngụy khoa học thường bắt đầu bằng một giả thuyết cảm tính hay một giả thuyết có thể làm hấp dẫn và kích động công chúng. Rồi từ đó họ tìm những tin tức dữ kiện - bất cứ dữ kiện nào - để làm nền tảng cho niềm tin của họ. Họ sẵn sàng bỏ qua những bằng chứng nào mâu thuẫn với niềm tin của họ. Nói rõ hơn giới làm ngụy khoa học cố gắng hợp lí hóa những niềm tin của họ chứ không màng đến những điều tra và tìm hiểu sự kiện một cách nghiêm túc và cũng chẳng cần phải cân nhắc những tình huống khả dĩ khác nhau. Giới làm ngụy khoa học rất thiếu kiên nhẫn lúc nào họ cũng nhấp nhỏm nhảy đến kết luận mà họ đã có sẵn từ trước và sẵn sàng nghiền nát những trục ý thức hệ khác mình.

  • Thứ tư ngụy khoa học hoàn toàn không quan tâm đến những tiêu chuẩn về bằng chứng. Đối với giới làm ngụy khoa học họ không cần biết và chẳng cần làm những thử nghiệm có ý thức và có phương pháp để thu thập dữ kiện; thay vào đó họ dựa vào những nguồn tin không ai kiểm chứng được những đồn đại những câu chuyện không có nguồn gốc rõ ràng và giai thoại mơ hồ. Họ không muốn và ít khi nào đề cập đến những tài liệu khoa học xác thực trong các tập san khoa học chuyên môn. Nói chung giới làm ngụy khoa học không bao giờ trưng bày những bằng chứng khoa học với những tiêu chuẩn khắc khe để làm nền tảng cho những phát biểu của họ.

  • Thứ năm ngụy khoa học dựa vào những giá trị chủ quan. Trong mỗi giai đoạn phát triển thế giới con người có khuynh hướng thích một phương pháp thu thập kiến thức để tìm hiểu thế giới chung quanh mình. Có một thời (trước khi khoa học ra đời) người ta thường hay dựa vào ý kiến của những người có thẩm quyền như Jesus chẳng hạn để giải thích sự kiện. Ngày nay phương pháp thông dụng nhất ít ra là trong thế giới văn minh là phương pháp khoa học và theo phương pháp này người ta chỉ có thể phán xét dựa vào dữ kiện được thu thập một cách khách quan. Ông Nguyễn xức dầu lên đầu và hết nhức đầu. Đối với ngụy khoa học dầu đó có công hiệu chữa chứng nhức đầu. Đối với khoa học sự kiện trên không có ý nghĩa gì cả bởi vì đó không phải là một thử nghiệm. Có nhiều sự kiện xảy ra khi ông Nguyễn hết nhức đầu: trăng tròn một con chim bay ngang đầu cửa sổ mở ông Nguyễn mặc áo màu đỏ v.v. - và chứng nhức đầu của ông Nguyễn chắc sẽ tự nhiên hết mà không có một sự kiện gì ảnh hưởng cả. Một cuộc thử nghiệm lâm sàng có thể sẽ phân chia những bệnh nhân bị chứng nhức đầu thành hai nhóm (một được điều trị bằng thuốc A và một nhóm không được điều trị) nhưng trong cùng hoàn cảnh và thu thập dữ kiện để so sánh.

  • Thứ sáu ngụy khoa học đơn giản hóa vấn đề đến một độ ngớ ngẩn. Đối với họ những lí thuyết không có giá trị vì lí thuyết thường phức tạp và trừu tượng mà họ có khi không cách gì hiểu được. Thành ra họ tìm mọi cách đơn giản hóa vấn đề thành những trắng/đen có/không đúng/sai bạn/thù và từ đó khái quát hóa cho xã hội. Bởi vì họ chủ trương đơn giản hóa vấn đề nên giới ngụy khoa học thường dựa vào những thông tin không đầy đủ về thiên nhiên hơn là dựa vào những gì mà người ta biết được hiện tại. Một con số ở một vùng cao nguyên Việt Nam có thể khái quát hóa cho cả nước Việt Nam và họ hài lòng với một nhận định như thế. Họ sẵn sàng tuyên bố những điều giật gân đề ra những lí thuyết quái dị trái ngược lại với những gì mà chúng ta biết về thiên nhiên. Nếu ông Nguyễn nhìn thấy một vật lạ bay trên bầu trời mà ông không biết nó là gì thì cách tốt nhất là ông chỉ phát biểu y như thế. Nhưng đối với ngụy khoa học họ sẽ dùng quan sát này của ông Nguyễn để làm bằng chứng cho rằng có những chiếc máy bay từ hành tinh khác!

  • Thứ bảy ngụy khoa học không bao giờ dám đưa những phát biểu của họ vào môi trường thử nghiệm. John Stuart Mill từng nói "Nếu có một khoa học mà tôi có thể đề xướng tôi nghĩ đó là khoa học của khoa học tức là khoa học nghiên cứu hay phương pháp." Phương pháp khoa học ở đây là phương pháp nghiên cứu thử nghiệm và suy luận. Trong khoa học chân chính mọi lí thuyết giả thiết ý kiến đều phải được thử nghiệm trước khi đưa ra kết luận. Nhưng đối với giới làm ngụy khoa học thử nghiệm là một điều xa lạ họ ít hay không khi nào làm những thí nghiệm điều tra cẩn thận có phương pháp để tự thuyết phục họ. Thay vào đó họ thích phớt lờ đi những kết quả nghiên cứu do các nhà khoa học thật khác tiến hành. Nếu một nhà ngụy khoa học nhận là đã tiến hành một thử nghiệm các nhà ngụy khoa học khác không khi nào lặp lại nghiên cứu đó nhất là khi kết quả của nghiên cứu nguyên thủy bị "mất" hay "trong tình trạng chất vấn". Ngay cả chính họ giới ngụy khoa học cũng không màng lặp lại thử nghiệm của chính mình.

  • Thứ tám ngụy khoa học không cần biết đến phân tích thống kê. Những sự kiện xảy ra hàng ngày dù là bệnh tật mức độ ô nhiễm môi trường hay mức độ trồi sụt của thị trường kinh tế không bao giờ bất biến mà luôn thay đổi theo thời gian theo môi trường và các yếu tố ngẫu nhiên. Do đó khi thu thập dữ kiện người làm khoa học chân chính phải cân nhắc kỹ càng những khía cạnh như số lượng dữ kiện thời gian theo dõi và những yếu tố liên quan. Một khi đã có những dữ kiện này nhà nghiên cứu phải dùng các phương pháp thống kê để phân tích xác định xem bao nhiêu mức độ biến chuyển của những dữ kiện đó là do các yếu tố ngẫu nhiên gây nên và bao nhiêu là do các yếu tố không ngẫu nhiên tạo thành; từ đó nhà nghiên cứu mới dám đưa ra một nhận xét hay một kết luận mà các yếu tố ngẫu nhiên đã được loại bỏ. Nhưng đối với những người hành nghề ngụy khoa học chỉ một bằng chứng là đủ không cần phải thu thập thêm bằng chứng; hay có thu thập thêm nhưng họ không màng đến phân tích dữ kiện bằng các phương pháp toán học và thống kê học vì họ cho rằng những phương pháp này quá ... phức tạp. Thực ra họ cũng chẳng biết đến những nguyên tắc để thẩm định dữ kiện nên nếu vớ được một mẫu tin nào là dùng ngay mà không cần xem xét nó đúng hay sai.

  • Thứ chín ngụy khoa học thường thích dựa vào ý kiến của những người mà họ cho là có thẩm quyền (trong tiếng Anh cái này gọi là "appeal to authority"). Trong khoa học chân chính trích dẫn ý kiến người khác hay tham khảo tài liệu nghiên cứu của những người đi trước là nhằm tạo thêm nền tảng cho lập luận để so sánh và cân nhắc và ghi nhận đóng góp của họ. Nhưng trong giới ngụy khoa học việc trích dẫn thường được lạm dụng như là một sự đe dọa một loại lạm dụng quyền lực. Một người học về kỹ thuật cũng có thể chấp nhận là một chuyên gia trong y học nghiên cứu khoa học. Nếu bí quá không có bằng chứng gì rõ ràng giới ngụy khoa học bèn giải thích bằng những âm mưu huyền bí nào đó. Tại sao Giáo sư A không bàn về đề tài X nhỉ? À theo giới ngụy khoa học vì ông ta đồng loã với chính quyền để dấu nhẹm vấn đề! Nhưng họ không cần biết Giáo sư A không phải là chuyên viên về đề tài X. Một cách suy bụng ta ra bụng người!

  • Thứ mười ngụy khoa học có xu hướng giải thích theo kiểu "tùy cơ ứng biến." Bởi vì giới làm ngụy khoa học không bao giờ phát triển được một lí thuyết có nền tảng dựa vào sự thật tiêu chuẩn nên họ luôn diễn dịch sự kiện tùy theo từng hoàn cảnh và thậm chí theo từng nền văn hóa. Một câu nói trong Kinh Thánh có thể được diễn dịch tùy theo người muốn hiểu nó và áp dụng tùy theo trường hợp. Một con số 9/11 ở Mỹ có thể diễn dịch thành 11/9 ở Âu châu hay Úc châu để cho ra những suy luận càn rỡ huyền bí về khủng bố. Ngoài ra giới ngụy khoa học chỉ cho chúng ta một câu chuyện và chỉ là một câu chuyện; họ không mô tả những tiến trình khả dĩ cho câu chuyện. Ví dụ như nhà ngụy khoa học Velikovski tuyên bố rằng một hành tinh khác đang tiến gần đến trái đất và sẽ làm cho trái đất đảo ngược nhưng ông ta không giải thích tại sao.

Từ những đặc điểm trên người ta có thể rút ra một số khác biệt giữa khoa học và ngụy khoa học như sau:

Khoa học

Ngụy khoa học

Tất cả những phát hiện khám phá của khoa học được lưu truyền chủ yếu trong các tập san chuyên khoa những tập san này được giới chuyên môn quản lí và điều hành. Các báo cáo được chấp nhận công bố trong các tập san này đều được qua ít nhất là ba đồng nghiệp kiểm tra về sự chính xác và phương pháp bằng những tiêu chuẩn khoa học do đó phẩm chất của chúng khá cao và đáng tin cậy.

 

Tài liệu của ngụy khoa học chủ yếu nhắm vào công chúng. Vì nhắm vào công chúng nên giới ngụy khoa học thường đăng bài ở những tạp chí dành cho người không chuyên môn và do đó bài báo không có kiểm tra về phương pháp hay tính chính xác.

Mọi kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận. Nói một cách khác giả sử có một nghiên cứu đã được công bố bởi một nhà khoa học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp lại nghiên cứu đó bằng những phương pháp và với điều kiện đã được mô tả phải đạt được những kết quả tương tự.

Kết quả không có khả năng lặp lại hay kiểm tra. Mọi "nghiên cứu " nếu có thường được mô tả một cách mù mờ ỡm ờ để cố tình không cho người khác biết rõ là họ đã làm gì và làm bằng cách nào.

Đối với các nhà khoa học tất cả những thất bại đều được khai thác xem xét kỹ lưỡng để học hỏi từ đó. Những lí thuyết sai lầm có thể cho ra những kết quả đúng nhưng ngẫu nhiên; tuy nhiên không một lí thuyết đúng nào có thể cho ra những kết quả sai lầm.

Đối với giới làm ngụy khoa học những thất bại thường được bỏ qua dấu đi hay chối bỏ.

Thuyết phục bằng bằng chứng bằng lí luận dựa vào logic hay lập luận của toán học bằng cách dựa vào dữ kiện không đi ra ngoài dữ kiện.

Thuyết phục bằng niềm tin và sự trung thành. Ngụy khoa học có một yếu tố tôn giáo; nó cố gắng cải đạo chứ không thuyết phục. Nó đòi hỏi người ta phải tin mặc kệ cho sự thật có đi ngược lại niềm tin.
Theo thời gian các nhà khoa học tìm tòi và học hỏi thêm và duyệt lại những kết luận hay lí thuyết cũ. Một khi bằng chứng mới mâu thuẫn với bằng chứng cũ bằng chứng cũ sẽ bị thay thế.

Không tiến bộ lí thuyết và kết luận không bao giờ được thay đổi. Ý tưởng cũ không bao giờ được bỏ bất kể bằng chứng mới ra sao.

Không nhắm vào danh vọng và thị trường kinh tế hay chính trị.

Giới ngụy khoa học sống nhờ vào việc buôn bán những sản phẩm đáng ngờ (sách báo dầu ăn v.v.) hay xuất hiện trên đài phát thanh đài phát hình để tìm đến danh vọng và ủng hộ chính trị.

Danh sách so sánh này có thể còn kéo dài vô tận bởi vì giữa khoa học và ngụy khoa học không có một điểm nào tương đồng với nhau nó giống như hai con đường song song không bao giờ gặp nhau. Trong việc tìm hiểu và học hỏi về thiên nhiên khoa học và ngụy biện khoa học là hai phương pháp đối nghịch nhau. Khoa học đòi hỏi những phương pháp tìm hiểu nghiêm túc có trình tự khó khăn tự chất vấn và suy luận theo logic theo lí trí và đạo đức khoa học làm cho nhà khoa học rất khó bị nhầm lẫn trước sự thật. Ngụy khoa học thì ngược lại luôn luôn gìn giữ những giá trị lỗi thời phi lí chủ quan và phi đạo đức khoa học hàng ngàn năm trước khi khoa học ra đời. Ngụy khoa học khuyến khích người ta tin vào bất cứ cái gì mà người ta cảm thấy cần phải tin. Ngụy khoa học sẵn sàng cung cấp những "bằng chứng" cho những tín đồ như thế để họ lầm tưởng rằng niềm tin của họ là khoa học là chân lí. Khoa học bắt đầu bằng một phát biểu đơn giản là "Hãy bỏ qua và quên hết những gì chúng ta tin tưởng vào và cố gắng điều tra tìm hiểu xem sự thật là gì."

Một số nhầm lẫn giữa khoa học và ngụy khoa học còn do sự nhập nhằng về danh xưng của người làm khoa học. Một khi một nhà khoa học thật sự không còn làm nghiên cứu khoa học nữa ông/bà ta sẽ không còn là "nhà khoa học". Tình trạng khốn nạn hiện nay là lưu lượng những cuốn sách những bài báo những tuyên bố dựa vào khoa học giả tạo tràn ngập thị trường chữ nghĩa. Một số tác giả của những "tác phẩm" này lại là những nhà khoa học thật. Tuy nhiên họ lại "nhảy rào" sang một lĩnh vực nghiên cứu khác mà họ chưa từng được huấn luyện hay không có kiến thức sâu. Chẳng hạn như nếu một kỹ sư điện tuyên bố rằng ông đã tìm ra mối quan hệ giữa dioxin và sức khỏe thì người kỹ sư đó đã làm ngụy khoa học. Tương tự những người sáng chế dữ kiện giả những người dấu số liệu không phù hợp với quan điểm của họ những người từ chối không cho người khác xem xét số liệu của mình v.v. cũng là những nhà ngụy khoa học.

Trong cộng đồng chúng ta ngụy khoa học cực kỳ phổ biến. Chỉ cần nhìn qua những mẫu quảng cáo trên báo chí và đài truyền thanh hay truyền hình tiếng Việt về các sản phẩm được viết bằng những mỹ từ hứa hẹn trị đủ thứ bệnh tật từ ung thư tiểu đường bệnh tim mạch đến nâng cao khả năng tình dục thì ai cũng biết vấn đề này lớn biết là dường nào. Ngoài những quảng cáo ngớ ngẩn như thế còn có một ngụy khoa học khác tinh vi hơn được xuất hiện qua những lời tuyên bố phát biểu mà tác giả của chúng thường được trịnh trọng giới thiệu là những "nhà khoa học". Những "nhà khoa học" này có khi rất nổi tiếng trong cộng đồng không hẳn vì họ có thực tài mà vì họ biết lợi dụng hệ thống truyền thanh để đánh động vào công chúng những điều đơn giản dễ nghe và dễ xúc động. Công chúng sẽ rất thờ ơ trước một phát hiện mới về DNA hay di truyền học nhưng họ sẽ đặc biệt chú tâm đến những lời phát biểu về ô nhiễm thực phẩm hay những tuyên bố giật gân kiểu như chúng ta đang bị đầu độc. Những con số thống kê được trích dẫn càng làm tăng vẻ đạo mạo của khoa học trước một khán thính giả mà khả năng cảm nhận của họ về những con số này chưa chắc hơn khả năng của chính người trích dẫn.

Trong những ngày gần đây dự luận trong cộng đồng người Việt hải ngoại rất quan tâm đến những phát biểu của hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang chung quanh vấn đề thực phẩm Việt Nam và dioxin. Trong báo Orange County Register hai ông tuyên bố rằng thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam bị nhiễm độc chất nhưng trong báo chí Việt ngữ hai ông từ chối rằng đó không phải là lời phát biểu của hai ông mà chỉ là một hiểu lầm của ký giả. Tuy nhiên báo Orange County Register vẫn chưa có lời đính chính. Trong một bài viết trên nhật báo Người Việt và cũng là một trả lời cho những chất vấn của tôi liên quan đến vấn đề này hai ông đã trích dẫn một số số liệu thiếu trung thực và hiểu lầm các dữ kiện khoa học. Tuy nhiên điểm qua một số bài "nghiên cứu" mà hai ông đề nghị người đọc nên tham khảo trên trang nhà (webpage) của Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (www.vastvn.org) và những trao đổi với người viết bài này trước công chúng tôi thấy có một vài đặc điểm đáng chú ý:

  • Thứ nhất hai ông chưa bao giờ tiến hành những cuộc nghiên cứu nghiêm túc ở Việt Nam để thu thập đầy đủ bằng chứng nhưng lại hăng hái phát biểu về môi trường Việt Nam. Đọc qua những bài viết của hai tác giả này chúng ta thấy họ dựa vào một phần rất lớn các bản tin rời rạc từ báo Lao Động hay Nhân Dân xuất bản ở Việt Nam và có trên internet (www.laodong.com.vn hay www.nhandan.org.vn) để làm dữ kiện. Họ hầu như không tham khảo những nghiên cứu về dioxin ở Việt Nam trong các tạp chí y học hiện đang được lưu hành trong mọi thư viện đại học hay có tham khảo nhưng hiểu sai ý chính của bài viết. Tất nhiên những tin tức trên những tờ báo như thế không thể là bằng chứng khoa học vì chưa ai xác định được sự chính xác của những tin tức đó như thế nào. Các ký giả không phải là nhà khoa học chuyên nghiệp nên họ không đủ khả năng để kiểm chứng số liệu khoa học.

Ngay cả khi đưa ra những con số để biện minh cho niềm tin của mình hai ông hầu như chỉ dựa vào những nghiên cứu sơ bộ. Thật vậy những con số thống kê của công ty Hatfield (Canada) của Tiến sĩ Nguyễn Đình Quang (Hà Nội) không phải là những nghiên cứu chính thức có qui mô để dùng được cho việc nhận định hay hình thành một quan điểm. Những nghiên cứu như thế có mục tiêu chính là làm cơ sở để thiết kế một nghiên cứu qui mô hơn hay để thẩm định xem một nghiên cứu lớn hơn có thể tiến hành được hay không.

Chẳng hạn như một nghiên cứu sơ bộ mà một nhà khoa học Việt Nam và một nhà khoa học Thụy Điển mới vừa công bố (Impact of chemical warfare with agent orange on women s reproductive lives in Vietnam: a pilot study đăng trong Tập san Reprod Health Matters năm 2001; số 9(18) trang 156-64) họ cho thấy trong 30 gia đình mà họ nghiên cứu tỉ lệ trẻ em bị dị tật tỉ lệ sẩy thai sinh sớm (premature births) trong những người cha hay mẹ bị ảnh hưởng Agent Orange cao (nguyên văn: "The women had had a high number of miscarriages and premature births. About two-thirds of their children had congenital malformations or developed disabilities within the first years of life.")

Có thể lấy nghiên cứu này để cho rằng Agent Orange có liên quan đến những bệnh tật hay triệu chứng trên đây hay không? Đối với khoa học: không. Lí do đơn giản là đây chỉ là một nghiên cứu sơ bộ kết quả của nó không cho phép nhà khoa học khái quát hóa cho một cộng đồng hay phát triển một thuyết nào cả. Bất cứ ai làm trong nghiên cứu khoa học đều có cái kiến thức sơ đẳng này.

  • Thứ hai những bài viết của hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang được quảng cáo như là những "nghiên cứu khoa học" nhưng trong thực tế thì không phải như thế. Đọc qua những bài viết này của hai ông người đọc sẽ nhận ra ngay một đặc điểm chính là chúng không tuân thủ theo một cấu trúc thông thường của một bài báo nghiên cứu khoa học. Có thể nói những bài viết "nghiên cứu khoa học" của hai ông chỉ là những tạp ghi. Những tạp ghi không có đầu mà có khi cũng chẳng có đuôi làm cho người đọc không hiểu họ viết về vấn đề gì và tại sao họ viết. Tôi sẽ phân tích vấn đề này trong một bài viết khác.

  • Thứ ba trích dẫn tùy tiện và sẵn sàng bỏ qua những bằng chứng nào mâu thuẫn với niềm tin của họ. Trong một bài viết trước tôi đã chỉ ra cách trích dẫn một cách chọn lựa những con số trong bài báo của Giáo sư Morcacelli để biện minh cho ý kiến rằng dioxin không có ảnh hưởng đến tỉ lệ sinh trai:gái (1). Ngay cả những con số và biểu đồ mà hai ông trích lại đăng trên các bài viết của mình hai ông cũng không màng cung cấp xuất xứ. Một đơn cử nữa về sự tuỳ tiện là trong một bài "nghiên cứu" khác của ông Mai Thanh Truyết (3) cụm từ "AML- acute myelogenous leukemia" (nguyên trích) được dịch là "Bệnh bạch cầu cột sống cấp tính" mà lẽ ra phải là Bệnh bạch cầu cấp thể tuỷ (4). Đây không những là một cách làm việc hết sức ngụy khoa học mà còn thiếu thành thật tri thức.

  • Thứ tư hai tác giả này tỏ vẻ rất dễ dãi với những bằng chứng của họ và từ đó có nhận xét sai với thực tế. Chẳng hạn như trong bài "Dioxin: việc tái thẩm định mức độc hại" (2) ông Mai Thanh Truyết viết: "Cho đến nay các khoa học gia vẫn chưa đồng ý rằng TCDD (hay dioxin) là nguyên nhân gây ra nguy cơ ung thư; và đây là điểm bất đồng mấu chốt trong vấn nạn dioxins." Đọc câu này người ta phải hỏi nếu quả thật chưa đồng ý về tác hại thì sao lại là "vấn nạn" nhỉ? Nó còn biểu hiện một cách phát biểu đơn giản: có nhiều dạng ung thư vậy thì câu phát biểu trên đề cập đến loại ung thư nào? Sự thật là các nhà nghiên cứu (5) đã có đầy đủ bằng chứng khoa học để kết luận rằng dioxin trực tiếp gây ra các bệnh sau đây: Soft-tissue sarcoma Non-Hodgkin s lymphoma bệnh Hodgkin và bệnh ban clor (chloracne). Nhưng họ chưa có đầy đủ bằng chứng để kết luận về mối quan hệ giữa dioxin và một số bệnh ung thư khác trong đó có ung thư hệ thống hô hấp (phổi thanh quản khí quản) ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer) myeloma một số bệnh thần kinh cấp tính và bệnh nứt đốt sống (spina bifida).

  • Thứ năm vì thiếu dữ kiện và dễ dãi với dữ kiện nên những nhận xét của họ thường rất chủ quan thậm chí phi logic. Tiêu biểu cho cách làm việc này là bài viết "Kết quả phân tích nước ở Việt Nam " (2) mà trong đó tác giả viết về kết quả phân tích nước ở Đồng bằng sông Cửu Long như sau "Tuy chưa hoàn tất cuộc khảo sát nhưng các kết quả phân tích ban đầu cho thấy vùng ĐBSCL đã bắt đầu bị nhiễm arsenic. Tuy mức độ nhiễm vẫn còn nằm trong tiêu chuẩn chấp nhận nhưng dù sao sự hiện diện của nguyên tố này là một chỉ dấu báo hiệu cho một thảm nạn (calamity) sắp xảy ra cho ĐBSCL (nồng độ trung bình của arsenic trong các vùng nầy tương đương với nhau là 10ug/L)." Có lẽ những ai có chút ý thức sẽ ngạc nhiên về cách nhận xét cực kỳ cảm tính và thiếu bằng chứng này. Những mệnh đề bắt đầu bằng "Tuy" và "nhưng" nó còn cho thấy tác giả cực kỳ chủ quan. Kết quả phân tích chưa xong mức độ còn nằm trong "tiêu chuẩn chấp nhận" (là bao nhiêu?) và chưa biết chính xác cỡ nào mà đã hô hoán là "thảm nạn"! Thật là không còn gì phi lí hơn.

  • Thứ sáu ông Mai Thanh Truyết có khuynh hướng và thích đơn giản hóa vấn đề. Chỉ thử nghiệm một vài mẫu nước tuy chưa có kết quả gì đáng báo động nhưng ông đã vội vàng tiên đoán cho tương lai. Đây là một lạm dụng sơ đẳng trong khoa học bởi vì theo một nguyên tắc căn bản nhà khoa học chỉ có quyền phát biểu những gì nằm trong giới hạn của số liệu và nhất là cân chắc với những giả định đằng sau cách tính. Nếu một nghiên cứu chỉ thu thập số liệu trong những người thuộc độ tuổi 50 đến 60 thì nhà nghiên cứu chỉ có quyền phát biểu trong độ tuổi đó và không thể tiên đoán cho những người ở độ tuổi 70 hay 40.

  • Thứ bảy hai tác giả chưa bao giờ công bố những "nghiên cứu" của họ trong các diễn đàn khoa học chuyên môn để đồng nghiệp có thể kiểm tra phương pháp và dữ kiện của họ. Truy nhập trong hệ thống Medline người ta sẽ chẳng tìm được tên tuổi hai tác giả này hay những công trình nghiên cứu của họ. Ngay cả những bài viết gọi là "khoa học" cho các báo dành cho công chúng hai ông chưa bao giờ mô tả cách nghiên cứu một cách rõ ràng mà rất mù mờ đến độ không ai hiểu được hai ông đã thực sự làm gì. (Nếu có dịp tôi sẽ phân tích những bài viết này trong một bài sau để phân biệt thế nào là một báo cáo khoa học và thế nào là một báo cáo phi khoa học.)

  • Thứ tám ... (còn tiếp )

More...

Khoa học và ngụy khoa học - Phần 2

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

Khoa học và ngụy khoa học: Phần 2
Một vài đặc điểm và khác biệt cần biết

Nguyễn Văn Tuấn

  • Thứ tám những phát biểu của hai ông chưa bao giờ được kiểm chứng bằng thống kê học. Chỉ tuyên bố một con số nào đó và thôi. Tức là người ta không biết mức độ biến thiên của con số đó như thế nào nó được tính toán ra sao từ bao nhiêu mẫu. Hai ông tuyên bố "Chúng tôi làm một việc mà từ trước đến nay chưa có ai làm đó là so sánh mức độ ô nhiễm Dioxin ở Việt Nam với các nơi bị ô nhiễm khác trên thế giới." Nhưng trong tất cả các so sánh của hai ông không có ý nghĩa khoa học gì cả vì các số liệu không được phân tích hay so sánh bằng các phương pháp thống kê học hiện hành. Không thể so sánh hai con số trung bình hay một con số trung bình với một con số ngẫu nhiên để đi đến một kết luận được. Ngay cả cách trình bày các dữ kiện bằng biểu đồ cũng mù mờ khó hiểu. Chẳng hạn như trong bài "Dioxin và chất độc màu da cam" (2) tác giả trình bày một biểu đồ có tựa đề là "Tình trạng sức khỏe cựu chiến binh US" nhưng người đọc chẳng biết nó có nghĩa gì vì tác giả chẳng màng giải thích ý nghĩa của trục "y" và quan trọng hơn nữa   tác giả cũng chẳng cho biết nguồn gốc của biểu đồ này là từ đâu và ai là tác giả gốc của nó.

  • Thứ chín hai ông có khuynh hướng trích dẫn những phát biểu của ... chính hai ông! Cách làm việc này cũng tương tự như những người hành nghề vừa là quan tòa vừa là người lập pháp và kiêm nhiệm luôn chức năng thi hành bản án. Đây cũng là một đặc thù của giới ngụy khoa học vì mục đích của những người làm trong ngụy khoa học là càng dàn trải thông tin giả nhiều chừng nào tốt chừng đó. Nó còn thể hiện một một đặc tính khác của ngụy khoa học đó là không bao giờ thay đổi ý kiến mặc cho những bằng chứng mới.

  • Thứ mười hai ông có khuynh hướng vá lấp dữ kiện và nhận xét kiểu "lấy râu ông này cấm cầm bà kia". Điển hình nhất cho cách làm việc này là trong bài viết "Kết quả phân tích nước ở Việt Nam" (2) sau khi trình bày một cách cực kỳ sơ sài các phân tích nước trong vài khu vực ở Việt Nam trong phần kết luận thay vì tác giả diễn giải những kết quả này ông lại dùng số liệu [không rõ nguồn gốc] ở ... Bangladesh để suy luận cho tình hình ở Việt Nam! Phải nói đây là một cách viết kỳ quặc mà tôi chưa từng thấy ngay cả trong các sinh viên đại học.

Khoa học nhà khoa học nghiên cứu trí thức v.v. không phải là những phù hiệu mà ai muốn mang vào ngực thì mang mà là những việc làm thực tiễn những ý nghĩ hay sáng kiến mới. Muốn có những sáng kiến mới và làm nghiên cứu thực tế nhà khoa học phải làm việc một cách gian khổ bất vụ lợi có khi rất lâu dài chứ không phải những loại lao động trên máy computer và internet. Có thể ví khoa học như một cái đỉnh chót vót của sự chính trực công bằng và hợp lí. Nhưng cái đỉnh này nó trơn và dễ bị trượt. Người ta cần phải có một sự cố gắng tột bực mới đến gần hay đứng trên nó được và càng phải cố gắng hơn để ở được cái vị trí đó. Một khi nhà khoa học trở nên buông lỏng hay uể oải thì việc họ trượt xuống hàng ngụy khoa học là chuyện bình thường và có thể hiểu được.

Đến đây thì quí độc giả có thể có một vài ý niệm rõ ràng về sự khác biệt giữa khoa học và ngụy khoa học và qua đó có thể xếp những phát biểu và bài viết của hai tác giả Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang vào loại khoa học nào. Những phát biểu của hai tác giả này tuy không có giá trị khoa học gì cả và cũng chẳng được bất cứ ai làm khoa học nghiêm túc để tâm nhưng chúng có thể làm cho công chúng hoang mang và tạo một ấn tượng không tốt trong công chúng về những giá trị khoa học đích thực. Cái nguy hiểm là ở chỗ này bởi vì như tục ngữ ta có câu "Con sâu làm rầu nồi canh " những việc làm của hai tác giả này - nếu không được góp ý - sẽ là một khuyến khích gián tiếp và mầm mống của một sự phát triển ngụy khoa học trong cộng đồng người Việt.

Chú thích:

  1. Xem bài "Phản trí thức và lạm dụng khoa học trong so sánh" của người viết bài này để biết thêm chi tiết Người Việt Tháng 1 2002.
  2. Xin xem các bài viết "Dioxin và chất độc màu da cam " tác giả "Mai Thanh Truyết Ph.D."; "Kết quả phân tích nước ở Việt Nam " tác giả "Mai Thanh Truyết Ph.D."; "Dioxins: việc tái thẩm định mức độ độc hại " tác giả "Mai Thanh Truyết." Điạ chỉ www.vastvn.org/vastnc.htm ngày truy nhập: 7 Tháng Hai 2002.
  3. Xin xem bài "Dioxin: Từ trận giặc báo chí Sài gòn- đến báo cáo Hatfield" Mai Thanh Truyết. Điạ chỉ www.vastvn.org/vastnc.htm ngày truy nhập: 7 Tháng Hai 2002.
  4. Thực ra thuật ngữ AML là viết tắt của cụm từ Acute Myeloid Leukemia (Bạch cầu cấp thể tủy) để chỉ chung cho chứng ung thư tế bào bạch cầu do sự quá sản của tế bào dòng tuỷ trong cũng như ngoài tuỷ xương làm cho xuất hiện một số lượng lớn bất thường tế bào dạng hạt (granulocytic forms) trong các mô khác nhau của cơ thể. Người ta cũng gọi là Granulocytic Leukemia. Nhóm này có nhiều thể gọi khác nhau: myelocytic myeloid myelogenic hay myelogenous đều cùng một đặc tính chung nêu trên.
  5. "Veterans and Agent Orange : Update 2000" do Committee to Review the Health Effects in Vietnam Veterans of Exposure to Herbicides (Third Biennial Update) soạn thảo và Institute of Medicine xuất bản năm 2001.

More...

Hòai Xuân Quê Hương

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long


Hòai Xuân Quê Hương

Tác giả : Hồ Mai Ngọc Mai
 
                         http://cuocsongviet.com.vn/upload/image/HOA%20-%20CAY/Hoa%20mai/Mai%20vang/maivang16.jpg

 

Mỗi độ Tết về tiết giá băng

Giao thừa đón rước trong âm thầm

Ngòai hiên hoa tuyết  rơi rơi mãi

Phủ ấp nổi lòng kẻ nhớ Xuân

 

Da diết nhớ mùa Nguyên Đán cũ

Con đường chen chút bánh xe lăn

Người người hớn hở đi mua sắm

Kẻ bán người mua tất được hàng

 

Quần áo mướn may cho trẻ nhỏ

Hoa tươi thêm chậu để ngòai sân

Cửa nhà sơn quét thay màu mới

Chùi bóng lư hương óng ả vàng

 

Thờ cúng ông bà theo tục lệ

Bàn thờ bày biện rất khang trang

Hoa mai ngũ quả rượu trà mứt

Đôi liễn đèn hoa mấy bó trầm

 

Bếp núc lửa hồng nghi ngút khói

Nấu dăm đòn bánh tét đầy nhân

Thịt kho dưa món nem bì chả

Phong phú ba ngày những món ăn

 

Mấy túi lì xì cho lũ trẻ

Xóm giềng con cháu đón xuân sang

Nguyện cầu cha mẹ thọ trăm tuổi

Gia đạo yên vui hưởng phúc lành

 

Đón Tết quê nguời buồn chất chứa

Cuối tuần hội chợ một ngày Xuân

Giao thừa hoa tuyết rơi làm pháo

Mai nhựa một bình rực rỡ vàng

 

Nghĩ đến Tết xưa lòng rộn rã

Nhớ người nhớ cảnh nhớ hương Xuân

 

 Hồ Mai Ngọc Mai

  Mùa Xuân 2011

Tháng Giêng - 05 2011

http://eva.vn/upload/news/2010-02-15/1266197982-li-xi-.jpg 

 

More...

Video Thiền và trị liệu ( Phật giáo )

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

Video Thiền và trị liệu ( Phật giáo )

Khóa tu Một Ngày An Lạc kỳ 4: Pháp đàm vấn đáp

Video Thiền và trị liệu ( Phật giáo ) VCD 1

Video Thiền và trị liệu ( Phật giáo ) VCD 2 

 
Video Thiền và trị liệu ( Phật giáo ) VCD 3
 
 
 
Video Thiền và trị liệu ( Phật giáo ) VCD 4
 


More...

Những thành tựu y học nổi bật 2010

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

Những thành tựu y học nổi bật 2010
 
(TNO) Năm 2010 sắp kết thúc  đây là năm được các chuyên gia đánh giá có nhiều thành tựu quan trọng về lĩnh vực y tế.

Sau đây là 10 thành tựu y học nổi bật nhất trong năm 2010 được tạp chí Time (Mỹ) bình chọn:

1. Thuốc giảm nguy cơ lây nhiễm HIV

Antiretroviral là thuốc được dùng để kéo dài cuộc sống của bệnh nhân có HIV. Tuy nhiên nghiên cứu mới đây cho thấy loại thuốc này có thể trở thành vũ khí hữu hiệu chống virus HIV lây truyền cho những người khỏe mạnh.

Ảnh: AFP

Một cuộc thử nghiệm của các nhà khoa học Mỹ liên quan tới gần 2.500 nam giới đồng tính - nhóm đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV cao cho thấy dùng thuốc Antiretroviral đã giúp giảm tới 44% nguy cơ lây nhiễm HIV so với nhóm dùng giả dược. Thậm chí tỷ lệ này còn có thể tăng lên tới 73% ở nhóm thường xuyên dùng thuốc.

2. Tế bào nhân tạo

Các nhà khoa học tại Viện J.Craig Venter (Mỹ) đã thành công khi tạo được tế bào sống nhân tạo trong phòng thí nghiệm.

Nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ Craig Venter làm trưởng nhóm đã dùng một số hóa chất để tổng hợp nên các đoạn ADN sau đó gắn một đoạn ADN mới vào tế bào và từ đây có thể phân chia liên tục.

 

Ảnh: Viện J.Craig Venter

Công trình khoa học của Tiến sĩ Venter mở ra cánh cửa giúp loài người có thể tạo ra sự sống nhân tạo vốn chưa từng có trước đây.

3. Xét nghiệm máu phát hiện bệnh Alzheimer

Một xét nghiệm máu đơn giản có thể giúp chẩn đoán được bệnh Alzheimer (một dạng bệnh mất trí nhớ) qua đó giúp tăng cơ hội phát hiện sớm căn bệnh này. Được biết Alzheimer là bệnh gây tử vong ở người cao tuổi đứng hàng thứ 4 hiện nay.

 

Bệnh Alzheimer thường xảy ra ở người có tuổi - Ảnh: Reuters

Thử nghiệm trên các tình nguyện viên các nhà khoa học thuộc Đại học Công nghệ Texas (Mỹ) nhận thấy tỷ lệ thành công trong việc phát hiện những người mắc bệnh Alzheimer là 94% trong khi đó mức độ chính xác trong việc phân loại những người không bị mắc bệnh này là 84%.

4. FDA chuẩn thuận Botox chữa đau nửa đầu

Giới chức liên bang Mỹ khẳng định Botox chất được tiêm vào cơ thể để giảm nếp nhăn có thể trị được bệnh đau nửa đầu.

Dựa trên hai cuộc thử nghiệm lớn liên quan tới hơn 1.000 bệnh nhân hãng dược Allergan - hãng sản xuất Botox - đã thuyết phục được Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) về việc Botox đẩy lùi được bệnh đau nửa đầu.

 

 Ảnh: Shutterstock

Cuối cùng FDA đã phê chuẩn loại thuốc này cho bệnh nhân bị đau nửa đầu từ 15 ngày trở lên mỗi tháng.

5. Hô hấp nhân tạo mới: Ấn ngực mà không cần thổi ngạt

Theo các chuyên gia thuộc Hiệp hội tim mạch Mỹ  phương pháp hô hấp nhân tạo mới (cardiopulmonary resuscitation - CPR) chỉ ấn mạnh vào ngực (mà không cần thổi ngạt bằng miệng) cũng giúp tăng khả năng sống sót ở các bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim với tỷ lệ tương tự như phương pháp hô hấp nhân tạo thông thường (cả ấn ngực lẫn thổi ngạt).

 

Ảnh: AFP

Điểm đặc biệt ở phương pháp chỉ ấn ngực này là ai cũng có thể thực hiện được và tiết kiệm nhiều thời gian qua đó tăng khả năng sống sót của nạn nhân.

Các phương pháp hô hấp nhân tạo truyền thống thường mất nhiều thời gian do nhân viên y tế phải ngừng ấn ngực lúc thổi ngạt khi cấp cứu tại chỗ và không có dụng cụ y tế.

6. FDA hạn chế dùng thuốc trị tiểu đường Avandia

Cơ quan Quản lý Dược và Thực phẩm Mỹ (FDA) đã ra thông cáo hạn chế sử dụng thuốc trị tiểu đường Avandia do lo ngại thuốc này làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ khi bệnh nhân dùng thuốc trong thời gian dài.

Trong một thông cáo được đưa ra hồi tháng 9 vừa qua FDA cho biết thuốc Avandia (do công ty dược GlaxoSmithKline của Anh sản xuất) chỉ được kê cho bệnh nhân tiểu đường típ 2 nếu họ không thể kiểm soát được lượng đường glucose trong máu sau khi đã thử dùng các loại thuốc điều trị tiểu đường khác.

 

Ảnh: AFP

Ngoài ra FDA cũng nhấn mạnh rằng các bệnh nhân chỉ buộc phải dùng Avandia khi đã biết về những nguy cơ tác hại do thuốc này mang lại.

7. Phát hiện sớm bệnh tim nhờ xét nghiệm máu

Các nhà khoa học đã xác định được 23 gien tượng trưng cho protein trong máu qua đó giúp phát hiện chính xác tới 83% tình trạng bị nghẽn mạch máu triệu chứng điển hình của bệnh tim mạch.

 

Ảnh: Getty Images

Khi dùng biện pháp xét nghiệm máu để tìm hiểu liệu bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh tim cao hay thấp các chuyên gia nhận thấy liệu pháp mới này tăng khả năng phát hiện bệnh lên 16% so với các phương pháp truyền thống.

Nhờ giúp phát hiện bệnh tim ngay từ khi cơ thể hoàn toàn chưa có biểu hiện gì liệu pháp xét nghiệm máu có thể giúp cứu sống được hàng ngàn người mỗi năm.

8. Dự đoán tỷ lệ thành công thụ tinh ống nghiệm

Các nhà khoa học thuộc Đại học Stanford (Mỹ) đã tìm ra cách dự đoán chính xác hơn tỷ lệ thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).

Dùng máy quay theo dõi sự phát triển của trứng đã thụ tinh có thể giúp cung cấp thông tin cụ thể những phôi có cơ hội sống tốt nhất sau khi được thụ tinh trong ống nghiệm và cấy vào cơ thể người mẹ.

 

Ảnh: AFP

Phương pháp mới sử dụng công nghệ hình ảnh để quan sát và phân tích sự phát triển của phôi trong những ngày đầu tiên có thể giúp lựa chọn được phôi tốt nhất từ giai đoạn sớm hơn qua đó giúp tiết kiệm được thời gian cũng như tiền bạc cho những cặp vợ chồng hiếm muộn tìm đến IVF để có con.

9. Buồng trứng nhân tạo

Thêm tin vui cho những chị em bị vô sinh các nhà khoa học thuộc Đại học Brown (Mỹ) cho biết đã thành công trong việc tạo ra buồng trứng nhân tạo giúp nuôi dưỡng trứng bên ngoài cơ thể.

Phát hiện này có thể giúp hàng ngàn phụ nữ bị tổn thương ở buồng trứng thực hiện được thiên chức của mình: làm mẹ.

 

Nhờ buồng trứng nhân tạo trong tương lai nhiều phụ nữ có thể chạm tới giấc mơ làm mẹ của mình - Ảnh: Shutterstock

Ngoài ra theo các chuyên gia những phụ nữ sắp trải qua các đợt hóa trị liệu hoặc mắc các bệnh hiểm nghèo như ung thư... cũng không phải quá lo lắng khi buồng trứng nhân tạo giúp tăng khả năng có con của họ.

10. Nuôi cấy tế bào gốc an toàn hơn

Nhóm nghiên cứu thuộc Bệnh viện Nhi đồng Boston (Mỹ) đã tìm ra phương pháp nuôi cấy tế bào gốc đa năng (iPS) mới an toàn và nhanh chóng hơn.

Hiện nay để tạo ra các tế bào iPS từ tế bào da các nhà khoa học cần phải cho những tế bào da này tiếp xúc với cả virus và gien gây bệnh ung thư để lập trình lại chúng ở tình trạng giống như phôi.

 

Tế bào gốc iPS có thể phát triển thành các bộ phận khác nhau của cơ thể như cơ bắp mô thần kinh và sụn - Ảnh: AFP

Mới đây các chuyên gia thuộc Bệnh viện Nhi đồng Boston đã sử dụng thành công một hình thức gien bổ sung khác được gọi là RNA giúp loại bỏ các tác nhân gây nguy hiểm từ các virus cũng như gien gây bệnh ung thư.

Và phương pháp tạo iPS mới giúp tăng tính hiệu quả lên tới khoảng gấp 100 lần so với phương pháp truyền thống. Đây là bước tiến lớn trong việc ứng dụng tế bào iPS để chữa bệnh.

More...

Lời khuyên Thích Ứng Cho Các Thiền Sinh - Phần 1

By Nguyễn Trường Tộ Vĩnh Long

LỜI KHUYÊN THÍCH ỨNG CHO CÁC THIỀN SINH (Phần 1)

( Thiền Phật Giáo)
(PRACTICAL ADVICE FOR MEDITATORS)

Bhikkhu Khantipalo
The Wheel Publication No. 116
Copyright
Ó 1986 Buddhist Publication Society 
Dịch V
iệt : Mỹ Thanh

 ---o0o--
http://www.tayphuongtinhdo.com/vs/images/stories/01ducthichca.jpg


NỘI DUNG

1. Lời nói đầu
2. Hai dòng thiền
3. Lời khuyên hữu ích cho các thiền sinh

4. Ngồi thiền mỗi ngày
5. Ẩn cư

6. Sinh hoạt hàng ngày

7. Thiên đường (Brahma-vihara) và sự hoàn hảo của nó

8. Kiên nhẫn (Khanti-parami) và sự hoàn hảo của nó
9. Tinh tấn (viriya-parami) và sự hoàn hảo của nó
10. Sự tự chủ (samadhi-parami) và sự hoàn hảo của nó
11. Những nguy hiểm trong lúc thực tập thiền
12. Phụ lục 40 bài thực tập thiền như đã được liệt kê trong 13. Con đường Thanh Tịnh hoá

Ghi chú

  LỜI NÓI ĐẦU

 Những trang sau đây là những phần mới được thêm vào cho quyển sách - “Đạo Phật là gì ?” in lần thứ hai.  Vì có nhiều người rất hâm mộ việc thực tập thiền và cũng có một số người tách rời khỏi nguồn truyền thống sống động này và hy vọng rằng những điều sau đây sẽ có giá trị cho những người thực tập thiền ngoài những quyển sách bổ sung.

Khi chúng ta muốn thực tập thiền chúng ta  phải có những lý do chánh đáng cho sự thực tập này.  Thiền - một định nghĩa hay hơn từ Samadhi là sự bình thản - chỉ là một khái niệm của sự thực tập Phật giáo một điều cần thiết để thành công cần phải kèm theo những thực tập khác như lòng quảng đại sự dịu dàng không bạo động kiên nhẫn vui vẻ và nhún nhường.  Nếu những điều tốt này không có nơi một người thiền sinh thì đúng là có điều gì không ổn và chỉ có một người dại dột mới ráng tiếp tục thực tập.  Sự bình thản tự chủ luôn dựa trên nền tảng căn bản đạo đức (sila) và một người không thể nào thành công nếu họ không chịu giữ gìn giới luật.

http://suoinguonhanhphuc.com/Upload/News/71200913746_1230867201.gif

     Những dấu hiệu của “sự tiến bộ” nơi lòng tự chủ không phải là những cảnh tượng khác thường những cảm giác kỳ lạ (mặc dù những điều này có thể xuất hiện khi thiền sinh có sự tiến bộ trong việc thực tập) nhưng mà là một sự bình an hài hoà trên con đường đạo.  Nếu một người thực tập không có thầy thì cần phải thật cẩn thận.  Nếu không một người không bao giờ biết được mình đang đi trên con đường chánh pháp hay tà pháp.

Bài tiểu luận này được trích ra từ quyển sách “Buddhism Explained” (Phật giáo giải nghĩa) in lần thứ hai (sửa chửa và bổ túc) của quyển sách “What is Buddhism?” (Đạo Phật là gì ?) ấn bản của The Social Science Press (Báo Khoa Học Xã Hội) ở Thái lan Phya Thai Road Chula soi 2 Bangkok.

 --Bhikkhu Khantipalo

http://tvdaidang.org/img2010/tichtruyen8.jpg

 HAI DÒNG THIỀN 

Có hai dòng thiền Phật giáo cho dù trong khi thực tập thì hai dòng thiền này được xem là bổ túc lẫn nhau.

Rất lợi ích cho một số người có tư tưởng năng động luôn bị phân tán bởi những ý tưởng lăng xăng lộn xộn.  Tư tưởng là một chuỗi dự kiện tinh thần xuất hiện và biến mất một cách nhanh chóng.  Mỗi một dự kiện là một tư tưởng đầy đủ với những yếu tố tinh thần cho nên trong lúc ban đầu cái tư tưởng cái tâm trí này là “sự chú ý” và nó quan sát những “tư tưởng” khác (tất cả chỉ là một sự tiếp diễn không ngừng nơi phần tinh thần của một người).

Nhờ vậy một người mới dần phát triển được khả năng quan sát tâm trí tư tưởng để xem nó đi đâu. Đi về quá khứ hiện tại hay tương lai.  Có phải nó đang nghĩ đến vật chất hay cảm giác hoặc đang nhận thức hay đang ham muốn   hoặc là nó biến mất nơi ý thức ?  Bằng phương thức hỏi rằng “Nó đã đi đâu?”.  Sự phân tán nơi tinh thần sẽ từ từ được kiểm soát cho đến lúc “sự chú ý” hay “chánh niệm” trở nên nền tảng vững vàng cho việc hành thiền tiếp tục.  Tâm trí cần được huấn luyện và phát triển theo cách thực tập này nhưng nó phải được quân bình bởi sự tỉnh lặng thấm nhuần.  Khi tinh thần trở nên yên tịnh thì một người nên bắt đầu thực tập thiền (jhana) và đây là bước đầu cho trí tuệ xuất hiện.  Phương cách này gọi là “trí tuệ đưa đến tỉnh lặng”.

Những cách thực tập khác dành cho những người mà tinh thần ít bị giao động bao gồm bốn mươi đề tài cổ điển về thiền (xem phần phụ lục); và những đề tài thiền này cộng với những cách thực tập khác phát triển hơn dựa vào một đối tượng để làm đề tài cho sự tập trung.  Có thể là thân thể của chúng ta hay một phần thân thể màu sắc của một bức tranh một chữ hay một câu và sự suy ngẫm trừu tượng vân vân và vân vân.  Tất cả những phương thức này kèm theo sự rèn luyện về tinh thần một cách kỹ càng nhưng vừa phải .  Lúc mà tư tưởng chạy sang chỗ khác thì phải từ tốn kéo nó trở về (bằng chánh niệm) để tiếp tục tập trung vào vào đề mục đã chọn.

Nhiều người lầm tưởng và cho rằng thực tập như thế này thì nhất định sẽ có được sự tỉnh lặng ngay lập tức.  Họ sẽ ngạc nhiên khi bắt đầu thực hành vì họ sẽ nhận thấy có nhiều trở ngại hơn họ nghĩ.  Lúc đầu là như vậy   vì có bao giờ họ chịu kiểm soát tư tưởng của họ đâu.  Kế đó lúc bắt đầu thực hành cũng giống như lấy một khúc cây khuấy nước đọng trong ao hoặc khơi đống lửa tro.  Tư tưởng như con voi rừng quen chạy rong trong khu rừng ham muốn sẽ không dễ gì để bị huấn luyện không dễ gì bị cột lại.  Nhưng với sự chuyên cần và chú tâm thì dần dần ta có thể dùng dây chánh niệm để cột voi lại và kết quả là ta sẽ được sự tỉnh lặng.

Bốn mươi đề tài nói đây nằm trong cách thực tập thứ hai này mà khi đã có được sự yên tịnh nhờ vào thực tập thì trí tuệ sẽ xuất hiện.  Vì thế được gọi là “tỉnh lặng đưa đến trí tuệ” và các bài tập này rất quan trọng trong thời buổi hiện tại điên cuồng này. Để hiểu rõ thêm một người nên tìm đọc Path of Purification (Con đường thanh lọc – Visuddhi-magga bản dịch) cho dù quyển sách này cho ta một kiến thức vĩ đại nó cũng không thể thay thế được sự liên hệ trực tiếp giữa thầy và trò.

  Lời khuyên hữu ích cho các thiền sinh

 Từ quan điểm tâm lý đến thực hành sự thiền định dành cho giới cư sĩ có thể được chia ra làm hai thành phần : nổ lực thực hành và thực hành trong sinh hoạt hàng ngày.  Nổ lực thực hành cũng có hai phần : ngồi thiền mỗi ngày hay đôi khi ẩn cư (retreat).

  Ngồi thiền mỗi ngày 

Trước hết chúng ta bàn về việc nổ lực thực hành thiền mỗi ngày.  Có nghĩa là ngày nào cũng ngồi thiền vào một giờ nhất định.  Cần phải cẩn trọng đừng nên ngồi thiền như một nghi lễ mà phải luôn tự nhủ vì lý do nào mà ta phải thực hành thiền.  Những ý kiến sau đây là những gợi ý hữu ích.

Nói về phần vật chất thì nơi thực hành thiền cần phải yên tịnh.  Nếu có được một phòng nhỏ dành cho việc hành thiền thì thật là tốt.  Dù sao thực hành thiền một mình vẫn hay hơn trừ khi những người trong gia đình đều cùng thực tập.  Một người cần chắc chắn rằng tinh thần của chính mình phải trong sạch trong liên hệ với người chung quanh như không tham lam sân hận vì những độc chất này sẽ cướp mất kết quả của sự hành thiền.

Muốn yên tịnh hay nhất là nên dậy sớm để hành thiền trước khi những người khác thức dậy.  Hơn nữa lúc sáng sớm là lúc tâm trí thoải mái nhất và cơ thể không bị mệt mỏi.  Một thiền sinh hết lòng thực tập sẽ luôn thực hành thiền vào những giờ nhất định vì biết rằng chỉ cần đủ giờ ngủ nghỉ thì thân thể sẽ thoải mái và tỉnh táo hơn.

Sau khi thức dậy và làm vệ sinh xong thì nên ngồi thiền với bộ đồ sạch và thong thả.  Cũng nên có một bàn thờ nhỏ với những hình ảnh Phật nhưng cũng không cần thiết lắm.  Vài người khác thì dâng hoa cúng Phật thắp hương trong sự tỉnh thức cao độ.  Trong những nước Phật giáo thì thiền sinh thầm niệm “Namo tassa bhagavato arahato samma-sambuddhassa” (Nam-mô Bậc ứng cúng chánh biến tri bậc giác ngộ viên mãn) khấn nguyện về ba nơi nương tựa và những giới cấm.  Nếu một người thuộc những lời kinh tán thán Phật Pháp Tăng bằng tiếng Pali thì cũng nên niệm những lời này trong khi hành thiền.  Một điều hữu ích khác quan trọng cũng không kém là sự suy ngẫm về những lời tụng niệm vì chúng giúp ta suy ngẫm về chân lý của pháp.

http://img830.imageshack.us/img830/7222/small1229631486nv.jpg

“Được may mắn có thân người tôi có hai trách nhiệm trong pháp giới : lợi ích cho chính bản thân và lợi ích cho những người khác.  Những chúng sinh khác dù là người hay không phải người có hình thể hay không có hình thể lớn hay nhỏ xa hay gần tôi sẽ đối xử với tất cả chúng sinh bằng sự dịu dàng tử tế và mong rằng tất cả đều được an lành.  Mong cho tất cả đều hạnh phúc…!  Tôi sẵng sàng giúp đỡ khi thấy họ đau khổ và sung sướng với họ khi thấy họ hạnh phúc.  Mong sao cho tôi phát triển lòng bình đẳng không phân biệt có một tâm trí luôn thăng bằng để không bao giờ tức giận !

Trong lúc lo cho kẻ khác tôi sẽ không quên sự tiến triển của chính mình trên con đường giáo pháp.  Mong sao cho tôi nhận biết được mình đang bị gió nghiệp nào lôi kéo vì đã nhiều lần đau khổ triền miên trong sinh tử! Tôi cũng nên biết rằng cuộc sống này là ngắn ngủi và tạm bợ.  Tâm trí và thân thể luôn đổi thay trong từng giây phút.  Cả tâm trí lẫn thân thể này không phải là của tôi hay là tôi.  Và nhận thấy rằng tâm trí hay bị dao động vì những khó khăn xảy ra trong cuộc sống ngắn ngủi này.  Vì si mê và đầy ham muốn tôi cần phải biết rằng cái chết là điều không thể tránh khỏi già và bệnh là những việc tự nhiên phải đến.

Tôi phải cố gắng để biết rằng cái người được gọi là “Tôi” là một tập thể của tinh thần và vật chất và nơi đó không có một thực thể nào gọi là linh hồn hay cái ngã thực sự hiện hữu.  Mong sao cho tôi thấu hiểu được rốt ráo ý nghĩa của vô thường và vô ngã.  Mong sao cho tôi được ở trong hư vô! Và giác ngộ được chân lý cao tột để sau này có thể dẫn dắt được những người khác!”

Khi ngồi thiền nên giữ thân thể thẳng nhưng thư thả.  Không nên cứng ngắt bó buộc đầu không nên gục xuống thắt lưng phải thẳng.  Thân thể phải yên tỉnh và thăng bằng.  Mặc dù tư thế kiết già là tốt nhất khi thiền sinh ngồi trên một gối đệm nhỏ có thể dùng ghế cho những người không thể hoặc không quen ngồi kiết già.  Ngồi kiết già hay bán kiết già sẽ dễ nếu có một gối cứng để dưới bàn toạ. Đầu gối sẽ đụng đất và ba điểm tựa vững chắc (hai đầu gối và bàn toạ) sẽ làm cho việc ngồi thiền được dễ dàng.

Mỗi ngày một người nên ngồi thiền trong một thời gian nhất định cho đến khi có được sự tập trung kha khá lúc ấy ta nên kéo dài thêm thời gian ngồi thiền.  Có người đốt một nén nhang để đo thời gian ngồi thiền.  Ngồi cho đến khi nén nhang tàn. Để hai tay theo tư thế thiền mắt có thể nhắm hay khép hờ tuỳ ý. 

Có nhiều cách thức được sử dụng để tập trung tâm trí và hai cách thiền chánh đã được nhắc đến như trên.  Những cách thức khác như lập đi lập lại một chữ hay một câu và có thể dùng xâu chuỗi.  Nếu một người thực tập chú ý vào hơi thở thì có thể dùng chữ “Buddho” hoặc “Araham” để làm yên tịnh tinh thần.  Thì thầm lập lại âm tự đầu khi hít vào và chú tâm vào âm tự sau khi thở ra.  Cũng như đếm hơi thở ( từ một đến mười - thường không đếm hơn số mười vì tâm trí sẽ dễ chạy loanh quanh) để giữ sự tập trung. 

Nhưng các phương cách này cần được bỏ đi khi đã bắt đầu có được sự tập trung cao.  Khi thực tập vào một câu thì xâu chuỗi được sử dụng để đánh dấu mỗi câu bằng một hạt trên chuỗi.  Sự thực tập thiền được tiến triển tốt đẹp khi sự tập trung vào một đối tượng được gia tăng.  Nhưng cũng không nên cho rằng thực tập thiền là vô ích khi có những lúc ta bị xao lãng lo ra hay buồn ngủ. Đây là những trở ngại cần được đối diện.  Và nếu chúng được nhận diện bằng sự chú tâm không phải bằng sự bực bội hay chán nản thì những khó khăn này sẽ được khắc phục. Để thành công điều cần thiết là ta phải luôn kiên trì và quân bình trong sự cố gắng.

http://vnthuquan.net/user/Ct.Ly/thien03.jpg

      Khi xả thiền
ta nên tụng một bài kinh và hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh.  Trong lúc này nên tụng Kinh Từ Bi – Metta Sutta (Bài kinh về lòng từ) vì bài kinh không dài nên rất dễ nhớ.  Vì có nhiều cách tụng cho nên nếu có được một cuộn băng của bài kinh này được đọc tụng bởi các thầy thì rất tốt. 

Trong vấn đề tụng kinh việc hữu ích là nên biết rằng một vài bài giảng của Đức Phật được nói ra bằng ngôn ngữ cổ điển của Phật giáo.  Một khi tâm trí bị phân tán thì bài kinh tụng có thể giúp một người trở lại sự chú tâm.  Vào những lúc bị xao lãng thiền sinh không nên thất vọng nhưng nên tiếp tục ngồi và tụng những bài kinh cho chính mình nghe. Đây là một cách thực tập của các thầy ngày hai lần để phát triển tinh thần. Đồng thời cũng là cách củng cố niềm tin và để quân bình trí tuệ. 

Một cách thực tập khác là thiền hành có thể được thực tập ngay trong nhà hay trong khu vườn.  Chiều dài khoảng hai mươi hoặc ba mươi bước là đủ vì nếu khoảng cách dài hơn tâm trí sẽ chạy nơi khác và nếu ngắn quá thì sự phân tâm sẽ dễ gia tăng.  Một người nên đi theo nhịp đi bình thường của mình hai tay nối nhau để thong thả trước thân.  Vào cuối con đường thì nên quay lại theo chiều kim đồng hồ.

Vài lời tâm nguyện cũng rất cần thiết cho việc thực tập.  Không có một người Phật tử thành tâm nào mà không thực tập thiền. Để tâm thực tập thiền người đó phải có những lý tưởng Phật giáo trong tâm.  Nhờ nương tựa vào giáo pháp người Phật tử sẽ dễ vượt qua những trở ngại trong lúc thực tập.  Bất cứ một trở ngại nào xảy đến đều bị khuất phục nhờ vào sự thành tâm của một người.  Nếu trên bước đường tu tập thiền sinh nhận thấy bị bít lối sự tu tập không tiến bộ và người này không có vị thầy bên cạnh.  Họ không nên chán nản hay bỏ cuộc mà phải nghĩ rằng : “Tôi đang nhận lấy những quả không tốt mà tôi đã gieo trong quá khứ”. Và rồi người này nên nhớ lại lời cuối của đức Phật :

“Tất cả  những gì giả hợp đều sẽ tan rã.  Với chánh niệm các người hãy tinh tấn”.  Tất cả những khó khăn cũng là những giả hợp và rồi chúng sẽ thay đổi trong lúc này hãy mãnh liệt tận tâm sử dụng chánh niệm để nhận thấy sự thật này.

Nếu một người không mệt lắm sau một ngày làm việc và có cơ hội vào buổi tối hoặc một lúc nào đó rảnh rỗi thì nên ngồi thiền.  Dẫu sao đi nữa nên tập có thói quen ngồi thiền trước khi đi ngủ.  Nên nghĩ rằng : “một khi ta đã nằm xuống thì chắc gì ta sẽ lại thức dậy”.  Vì thế một người có thể nằm xuống để chết và cách này là cách hay nhất để nhắc nhở ta loại bỏ những tánh xấu và để thực tập sự tỉnh thức.  Nếu một người thực tập điều này “nằm xuống để chết” cách này rất hay để tập cho ta sẵn sàng cho cái chết có thể đến bất cứ lúc nào trong tương lai. Để giúp ta dần dần từ bỏ không bám víu vào những gì không thuộc về mình chẳng hạn thân và tâm này.

Một câu kinh hay một chữ nào trong giáo pháp đều có thể được sử dụng lập đi lập lại nhiều lần trước khi đi vào giấc ngủ.  Bằng cách này một người bắt đầu và kết thúc một ngày bằng sự thực tập giáo pháp của đức Phật.  Ngoài việc thành tâm thực tập cả ngày đâu có gì tốt hơn nữa ?

http://thienviendaidang.net/images/news/trilieu2.JPG

Ẩn cư

 Cách thực tập cao độ là sự ẩn cư.  Một thiền sinh sốt sắng có thể đi ẩn cư nếu những tiện nghi cho phép. Ở phương tây chỉ có vài nơi để thực tập. Điều quan trọng là làm sao nhận được lời chỉ dẫn trực tiếp nơi một người thầy có kinh nghiệm (sách chỉ là bước đầu vì đôi lúc kể cả có thầy cũng vẫn chưa đủ).  Một khi tìm được vị thầy rồi thì một người phải hết lòng chuyên cần để thực tập và để thể nghiệm lấy những gì mình đã học được.  Nếu một người có được một người thầy và có điều kiện để thực tập thì người này là người may mắn nhất.

Nhiều người sẽ không có cơ hội có được một người thầy và vài người khác sẽ cố gắng đi ẩn cư để thực tập thiền ở vài nơi yên tịnh ở miền quê.  Chỉ nên thực hành việc ẩn cư khi mà thiền sinh đã được sự chú tâm cao.  Nếu không thì việc ẩn cư sẽ không có lợi ích đôi lúc còn có vẻ tăng cường những trần cấu của tinh thần.

Sinh hoạt hàng ngày

 Đã có rất nhiều bài viết về những cách thực tập thiền khác nhau.  Sau đây là những lời chỉ dẫn.  Trước hết một người không nên tự dối mình khi nói về sự chú tâm.  Không lợi ích gì khhi mình tự dối mình và những người khác là cuộc sống của mình là thiền trong sinh hoạt hàng ngày — trừ khi một người đã có được sự chú tâm cao độ.  Chỉ có những người từng ngồi thiền trong nhiều năm và giữ giới như những tu sĩ thì mới có thể nói họ sống với “Thiền” trong sinh hoạt hàng ngày; mà nếu thật sự có như thế thì thông thường người này cũng không nói điều này ra cho người khác biết.  Từ chối không cho sự hãnh diện có cơ hội để làm méo mó trạng thái của tâm thức một người nên giữ quân bình và biết chấp nhận giới hạn của chính mình.  Và đây là một bước lớn để tiếp tục.  Nếu một người cư sĩ tự nghĩ rằng mình là một vị A-la-hán thì điều này sẽ ngăn cản bước tiến của mình; trong khi một người thành thật thì ít ra cũng có được sự hiểu biết để trở nên khiêm tốn hơn.

Nếu không có chánh niệm thì khó lòng có hy vọng sống được với thiền trong sinh hoạt hàng ngày.  Những việc bình thường vẫn có thể trở nên những đề tài cho sự thực tập thiền.  Chánh niệm là sự chú tâm biết mình đang làm việc gì ngay trong hiện tại.  Chẳng có gì thú vị hết cho nên cần phải có sự cố gắng lúc ban đầu để tránh không mất “chánh niệm”.  Thường khi nào muốn tránh những cảnh nhàm chán hay việc gì không thích hợp thì chúng ta hay hướng về những thế giới không tưởng nghĩ về quá khứ hoặc tương lai và trốn tránh hiện tại.  Nhưng nếu một người thật sự muốn hiểu rõ về mình thì những việc nói trên không có lợi ích gì hết bởi vì chúng được tổng hợp bởi những ảo tưởng như sợ hãi si mê. 

Trong khi chúng ta thực hành thiền một cách nghiêm ngặt thì chánh niệm có thể theo dõi tất cả những gì đang xảy ra trong tâm trí; trong công việc hàng ngày ta nên đem chánh niệm đến với việc làm của chúng ta.  Một người không nên “gởi” tâm trí đi lông bông không để nó mơ tưởng về quá khứ hoặc tương lai. Đức Phật ngày xưa có nói như sau :

“Quá khứ như một giấc mơ

Tương lai tựa ảo tưởng

Trong khi hiện tại như đám mây”. 

Sự so sánh này rất cần thiết để giữ sự chú tâm vì tâm trí hay chạy lăng xăng.  Sự thực tập thiền giúp cho tâm trí “nằm trong” cơ thể nghĩa là luôn có sự chú tâm nhận biết về một việc gì.  Chỉ có người thiền sinh hết lòng mới thấy được lợi ích của việc thực tập.  Bởi vì sự thực tập này cắt đứt mọi hứng thú đối với bên ngoài và làm ngưng bặt sự suy nghĩ viễn vong.  Cái hay của chánh niệm là giúp ta tìm thấy được sự hứng thú trong công việc hàng ngày.

Mỗi ngày qua đưa chúng ta gần kề với cái chết và cho dù với sự tái sinh ta cũng không biết mình sẽ đi về đâu.  Chỉ có hiện tại cho chúng ta cơ hội để thực tập giáo pháp thay vì sống trong ảo tưởng hay chán ghét những gì mình không thích (hoặc dễ dãi với lòng tham của chính mình) với chánh niệm chúng ta có thể chuyển hướng những thói quen cũ.  Không phải bị kềm chế bởi tham lam hay sân hận và bị thống trị bởi những ảo tưởng và chỉ có chánh niệm mới có thể chỉ cho chúng ta đến con đường giải thoát.

Trong sự thực tập hàng ngày chúng ta phải để chánh niệm có mặt luôn luôn để giúp chúng ta dần dần tách khỏi sự ràng buộc.  Chúng ta cũng nên khôn ngoan lợi dụng những cơ hội “nghịch” như : chờ đợi xe lửa hay xe buýt trong lúc chờ đợi ai bất cứ lúc nào ta một mình trong vài phút.  Thay vì chúng ta đọc báo nói chuyện điện thoại hay tán dóc với người khác sẽ có lợi ích hơn nếu chúng ta cho tâm mình được “nghỉ ngơi”.  Tách rời sự chú tâm nơi những vật bên ngoài tập hít thở trong chánh niệm hoặc lập lại những câu trong giáo pháp hoặc những chữ như “Buddho” (Phật)  hoặc “Arahat” (A-la-hán) làm như vậy cho đến khi chúng ta trở lại với công việc của mình.


http://khanhhuong.jcapt.com/img1/store/Diembao/2010_3/ngoithien.jpg

     Trở về bên trong thường thường là một việc làm hết sức lợi ích nó giúp ta củng cố việc ngồi thiền và ngồi thiền giúp chúng ta mạnh thêm về khả năng quay lại bên trong.  Chú tâm vào hơi thở là một cách tập trung rất tốt trong lúc chúng ta đi du lịch hoặc đang chờ xe buýt hay xe lửa.  Tại sao ta phải hấp tấp và thiếu kiên nhẫn ?  Một chút thực tập về hơi thở nên dành cho những lúc như thế này chú tâm vào hơi thở giúp tâm trí ta bớt lăng xăng và giúp cho cơ thể ta bớt

dao động.  Một du khác phải cứ nhìn ra ngoài cửa sổ trong lúc phi cơ đang bay!  Tại sao ta phải làm nô lệ cho cặp mắt trong khi một chút thực tập có thể lợi ích hơn.  Một người không cần phải nghe những người chung quanh tán ngẫu tại sao lại làm nô lệ cho “lỗ tai” ? Người ta không thể đóng hai tai lại nhưng ai ai cũng có thể đem sự chú tâm của mình vào việc thực tập chánh niệm. 

      Cũng chính chánh niệm giúp cho sự tập trung trong lúc ngồi thiền.  Chẳng hạn như ham muốn nhục dục có thể bị tan biến khi ta nghĩ đến sự mục rửa của thây ma.  Nhan sắc được ban tặng cho các cô gái xinh xắn (hoặc anh chàng đẹp trai)  trở nên lố bịch khi ta nghĩ đến những ông bà già có hấp dẫn ai đâu.  Chỉ khi nào ta nhận thấy chính dục vọng sẽ đốt cháy kẻ ham muốn lúc ấy ta mới thấy nên từ bỏ nó.  Cũng như vậy sự tham ăn dù chỉ chút chút cũng có thể từ bỏ được khi ta tập trung sự suy nghĩ về những tiến trình của đồ ăn. Đồ ăn đã nhai rồi dù có bày trên đĩa đẹp cách mấy cũng chẳng thấy ngon.  Ói mửa cũng là những thức ăn đó nhưng đâu có ai ham.  Cả đến phân để trên đĩa bằng vàng cũng không hấp dẫn được ai – nhưng đây lại là những gì còn lại của những món ngon đã ăn !  Khi một người đã suy ngẫm về thức ăn trong ba giai đoạn kể trên lòng tham sẽ biến mất và khi một người ăn họ dùng thức ăn như là một món thuốc để giữ gìn thân thể này.

Trong lúc đang tức giận chánh niệm có trách nhiệm để biết rằng ta nên đem sự chú ý qua một đề tài khác hay một người khác.  Chính chánh niệm cảnh giác chúng ta khi chúng ta sắp sửa tức giận và chính chánh niệm sẽ giúp ta chuyển hướng và giữ được thế quân bình.

Khi ganh tỵ xuất hiện chánh niệm giúp ta thấy bằng tâm trí là “ganh tỵ đang xuất hiện” và nếu ta không vui mừng với niềm vui của kẻ khác thì chánh niệm cũng cho ta biết rõ điều đó để giúp ta giữ thế quân bình hoặc giúp ta hướng sự chú ý của mình đến những đề tài khác. Đức Phật thật sự đã nói “Chánh niệm ta tuyên bố rất là lợi ích ở mọi nơi”.

Những người có ý tưởng lệch lạc cho rằng Phật giáo khuyến khích sự thiền định cá nhân cho nên không làm gì lợi ích cho xã hội.  Họ nên hiểu rằng người Phật tử tin là xã hội có thể tốt hơn nếu mỗi người biết tự sửa đổi.  Một xã hội lý tưởng theo người Phật tử đã được đức Phật giảng trong những bài pháp dành cho người cư sĩ và luôn nhấn mạnh sự phát triển của cá nhân là quan trọng và là một yếu tố cần thiết.  Một xã hội lành mạnh là nơi mà có những người dân sống hoà bình với chính bản thân mình.  Sự phát triển về trí tuệ và từ bi của một người có ảnh hưởng đến những người chung quanh như là bột nổi bỏ vào trong bột bánh. 

Vì vậy người Phật tử luôn kêu gọi hãy cố gắng đạt sự an bình trong tâm mình một khi mọi người có an bình trong tâm họ thì hoà bình sẽ có mặt trên thế giới.  Nếu chỉ muốn có hoà bình mà không tự tu tâm thì không làm sao có được hoà bình miên viễn vì gốc rễ tham sân si vẫn còn nằm trong tim mọi người.   Không thực tế ?  Chỉ dành cho những người không thực tập.  Những người có thực tập nhận thấy sự lợi ích của thiền đã giúp họ giải quyết được một số vấn đề trong cuộc sống. 

Cho dù có tham gia nhiều ngày để thực tập thiền con đường đưa đến Niết bàn vẫn cần nhiều nổ lực. Đôi lúc gặp phải trở ngại trên đường nhưng với chánh niệm làm ngọn đèn soi sáng ta hiểu được rằng mục đích của mình là đáng giá và huy hoàng không phải chỉ cho riêng ta mà cho tất cả mọi chúng sanh.

  Thiên đường (Brahma-vihara) và sự hoàn hảo của nó

 Con đường dẫn đến Niết bàn có qua những nơi chốn gọi là “Thiên đường” nơi để ta luyện tập từ dở trở thành hay trên con đường tu tập giáo pháp.  Như đã nhấn mạnh ở trên mục đích là hạnh phúc cho mình và cho tất cả chúng sanh.  Vì thế một người phải hành động như thế nào để có được một kết quả hạnh phúc.  Trong trường hợp này một người cần phải đối xử với những người khác như họ muốn được đối xử.  Bởi vì mỗi một chúng sanh đều quý trọng chính mình và mong ước được hạnh phúc.  Một người không thể nào có được hạnh phúc riêng rẻ và không có nguyên nhân của nó cũng không thể có được hạnh phúc khi mà ta đối xử tệ với những người khác hay những chúng sanh khác.  Mọi chúng sanh đều tham sống sợ chết đây là một điều rất thật đối với chúng ta cũng như đối với các sinh vật khác.

http://www.phapvan.ca/pv/minhhoa/TinThangBay_tuan01%20(1).jpg

Một người luôn luôn hành động đúng và sống một cuộc sống từ bi là người thực sự thương chính bản thân mình vì họ làm những việc có lợi ích có hạnh phúc.  Những người khác cho dù họ nghĩ rằng họ rất thương bản thân họ nhưng thật ra họ lại là kẻ thù tệ nhất của chính họ vì họ làm những việc không có lợi cho họ cũng như những việc mà kẻ thù của họ muốn làm cho họ.

Phẩm hạnh tốt dựa trên sự thuần thục của tâm trí một khi tâm trí được giải thoát khỏi sự kềm kẹp của tham sân si. Đối xử với người láng giềng như đối xử với chính mình nói thì dễ nhưng làm thì khó.  Những bài giảng của đức Phật có một giá trị đặc biệt là chỉ cho thấy làm thế nào một phương cách được dịch giảng bằng kinh nghiệm với phương cách thực tập về thiên đường có tính cách tinh thần.  Khi chúng ta nói đến “tinh thần” chữ này không nên được hiểu trong một ý nghĩa nhỏ hẹp của những tiến trình có tính cách tri thức nhưng mà là gồm có tinh thần – và – con tim tri thức và tình cảm.

Có bốn trạng thái thuộc về thiên đường :  thân thiện từ bi vui vẻ và bình thản.  Tất cả những điều này nhất là điều thứ nhất là những thực tập thiền rất phổ biến ở những đất nước Phật giáo.  Tiếp theo là một giải thích ngắn cho mỗi trạng thái.  Sự thân thiện (metta) là một tình thương không ích kỷ và có thể lan rộng đến tất cả mọi người. Điều này trở nên dễ dàng một khi thấm nhuần trong thiền định khi mà phẩm chất của sự thân thiện trở thành một phần của cá tánh nơi một người. 

Theo thói thường con người chỉ “thương yêu” một số người nào mà có liên hệ gia đình v… v… một tình thương yêu như vậy chỉ là sự bám víu của nhục dục một tình thương bị hạn chế và những người đứng ngoài tình thương đó thường bị làm ngơ hoặc bị ghét bỏ.  Như vậy tình thương yêu có tính cách nhục dục không những liên hệ với sự bám víu (tham) mà còn liên hệ với giận hờn (sân) và ảo tưởng (si) và như vậy người nào cảm thấy hài lòng với tình thương kiểu này sẽ phải trả một giá rất đắt.  Rất ít người có được tình thương không có sự bám víu tình thương có thể trở nên vô tận và không cần phải bị thu hẹp trong nhóm này hoặc người nọ. 

Vì tình thương có thể là vô biên không chừa ai hết và như thế không có liên hệ gì đến ba độc tham sân si.  Sự thân thiện có thể được phát triển dần dần nơi sự thực tập hàng ngày của một người; nhưng nếu muốn nó hữu hiệu thì cần phải thể hiện nó trong sinh hoạt hàng ngày. Để làm cho cuộc sống dễ chịu hơn bằng cách ban đầu hãy đổi những người trước đây mình ghét thành những người mình không để ý và rồi khi sự thực tập được củng cố chuyển đổi chúng thành những đối tượng để phát huy sự tử tế. Đây là phương thuốc mà đức Phật đã đề ra để chữa bệnh giận hờn và ghét bỏ.  Cuối cùng một người cần nên cảnh giác với hai kẻ thù : “một kẻ thù ‘gần’ là sự bám víu có tính cách nhục dục mà thường bị lầm lẫn gọi là “thương yêu” trong khi kẻ thù ‘xa’ là sự ghét bỏ.  Trong tiến trình phát triển sự thân thiện một người cần phải đề phòng hai trạng thái này.

Từ bi (karuna) là để ý đến những đau khổ của mọi người trên thế giới.  Nó khắc phục sự lãnh đạm thờ ơ đối với nỗi khổ của chúng sanh.  Như thế lòng từ bi cần được thể hiện trong cuộc sống bằng cách sẵn sàng giúp đỡ và lo lắng cho những người đang khốn đốn. Đây có được một lợi ích là làm giảm đi sự ích kỷ bằng cách thông cảm những nỗi khổ của kẻ khác. Đây là phương thuốc trị bịnh độc ác vì làm sao một người có thể làm thương tổn những kẻ khác khi thấy họ đang đau khổ ?

Đây cũng có hai kẻ thù : “gần” là sự hối tiếc trong khi kẻ thù “xa” là ác độc.  Cùng vui (mudita) là vui với mọi người khi người thành công sung sướng. Điều này khắc phục thái độ khó chịu với kẻ khác và sự ganh tỵ có thể xuất hiện khi nghe kẻ khác sung sướng.  Nơi đây trong cuộc sống một người cần phải bày tỏ niềm vui mỗi khi biết được rằng người khác được lợi ích về vật chất hay tinh thần. Ở đây điều lợi ích là mở rộng lòng đối với kẻ khác và dẹp bỏ tính dấu diếm.

Một người phát triển được sự vui vẻ sẽ hấp dẫn vô số bạn hết lòng với mình và với những người bạn này hay những người khác người này luôn sống trong sự hài hoà. Đây là thuốc của đức Phật dành trị sự ganh tỵ và tỵ hiềm và có thể ngăn chận chúng phát triển.  Hai kẻ thù của sự vui vẻ là sự sung sướng cá nhân ....

Xem tiếp  phần 2

Nguồn: Diễn đàn Nhân điện

More...

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'18366','on2p0j3u1ralopsgb6tilmlci1','0','Guest','0','54.198.23.251','2018-09-19 18:32:16','/')